vanban.org

Bản án 10/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Đình chỉ yêu cầu khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung của chị Hà Thị Cẩm T đối với 01 đôi bông cưới 01 chỉ vàng 24K, 01 lắc tay 03 chỉ vàng 24K, 01 kiềng tay 02 chỉ vàng 24K, 01 dây chuyền 04 chỉ vàng 24K, 01 điện thoại Iphone 11.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hà Thị Cẩm T. Về tình cảm: Chị Hà Thị Cẩm T được ly hôn với anh Nguyễn Minh T1. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hà Thị Cẩm T và Nguyễn Minh T1"
  • Tòa quyết gì? Đình chỉ yêu cầu khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung của chị Hà Thị Cẩm T đối với 01 đôi bông cưới 01 chỉ vàng 24K, 01 lắc tay 03 chỉ vàng 24K, 01 kiềng tay 02 chỉ vàng 24K, 01 dây chuyền 04 chỉ vàng 24K, 01 điện thoại Iphone 11.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GÒ CÔNG TÂY
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2024/HNGĐ-ST;
Ngày: 11-01-2024.
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi
con, tranh chấp về cấp dưỡng
nuôi con, tranh chấp chia tài sản
chung”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG TÂY

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Xuân.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hoa.

Bà Nguyễn Thị Linh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Huỳnh Phúc Tài, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Công Tây.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Tây tham gia phiên tòa: Ông Trần Việt Tú, Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Công Tây xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 314/2023/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 10 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, tranh chấp về cấp dưỡng nuôi con, tranh chấp chia tài sản chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 153/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 12 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 117/2023/QĐST-HNGĐ ngày 20 tháng 12 năm 2023, của Toà án nhân dân huyện Gò Công Tây, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Hà Thị Cẩm T, sinh năm 2004.

Địa chỉ: Ấp B, xã B, huyện G, tỉnh Tiền Giang.

2. Bị đơn: Nguyễn Minh T1, sinh năm 2001.

Địa chỉ: Ấp T, xã B, huyện G, tỉnh Tiền Giang.

(Chị T xin vắng mặt và anh T1 vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn xin ly hôn và các lời trình bày tại tòa nguyên đơn chị Hà Thị Cẩm T trình bày:

Chị và anh Nguyễn Minh T1 cưới nhau vào năm 2022, do tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B. Sau khi cưới anh chị sống hạnh phúc đến tháng 5/2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống vợ chồng, anh T1 rêu rao chị lấy cắp của gia đình anh

- 2 -

T1 02 tờ vé số trúng độc đắc, anh T1 thường xuyên đánh chị trong lúc chị đang mang bầu và thường xuyên mắng nhiếc, sĩ vả chị, do chị đang mang bầu không thể sống nổi bên gia đình anh T1 nên đã về nhà chị sống từ tháng 6/2023 đến nay. Chị và anh T1 đã sống ly thân từ giữa tháng 6/2023 đến nay. Nay xét thấy tình cảm không còn, đời sống vợ chồng không còn hạnh phúc và không thể hàn gắn lại được.

Về quan hệ tình cảm: Chị yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Minh T1.

Về con chung: Có 01 con tên Nguyễn Minh T2, sinh ngày 22/7/2023, hiện con đang sống với chị. Khi ly hôn chị yêu cầu được quyền nuôi con và yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi cháu T2 mỗi tháng 1.500.000 đồng.

Về tài sản chung: Chị có yêu cầu chia tài sản chung gồm: 01 đôi bông cưới 01 chỉ vàng 24K, 01 lắc tay 03 chỉ vàng 24K, 01 kiềng tay 02 chỉ vàng 24K, 01 dây chuyền 04 chỉ vàng 24K, 01 điện thoại Iphone 11. Hiện nay anh T1 đã bán số tài sản trên tiêu xài. Nay chị rút yêu cầu khởi kiện chia tài sản chung nêu trên.

Về nợ chung: Không có.

* Bị đơn anh Nguyễn Minh T1 mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng anh T1 vẫn vắng mặt và cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn.

* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng đã chấp hành theo đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử:

Đình chỉ yêu cầu khởi kiện chia tài sản chung chia tài sản chung của chị Hà Thị Cẩm T đối với 01 đôi bông cưới 01 chỉ vàng 24K, 01 lắc tay 03 chỉ vàng 24K, 01 kiềng tay 02 chỉ vàng 24K, 01 dây chuyền 04 chỉ vàng 24K, 01 điện thoại Iphone 11.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T về ly hôn, về yêu cầu nuôi con chung, về yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Nguyên đơn chị Hà Thị Cẩm T yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Minh T1, yêu cầu được nuôi con chung, yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con, yêu cầu chia tài sản chung nên Hội đồng xét xử xác định đây là “Tranh chấp ly hôn, tranh chấp về nuôi con, tranh chấp về cấp dưỡng nuôi con, tranh chấp chia tài sản chung” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án quy định tại khoản 1, khoản 5 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn có nơi cư trú tại địa phương nên thuộc thẩm quyền xét

- 3 -

xử của Tòa án nhân dân huyện G theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Xét nguyên đơn chị Hà Thị Cẩm T có đơn xin xét xử vắng mặt và bị đơn anh Nguyễn Minh T1 đã được triệu tập xét xử hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự quyết định xét xử vắng mặt chị T và anh T1.

Xem xét việc thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu khởi kiện:

Tại phiên tòa nguyên đơn chị Hà Thị Cẩm T xin vắng mặt nhưng vẫn giữ ý kiến xin rút yêu cầu khởi kiện chia tài sản chung đối với 01 đôi bông cưới 01 chỉ vàng 24K, 01 lắc tay 03 chỉ vàng 24K, 01 kiềng tay 02 chỉ vàng 24K, 01 dây chuyền 04 chỉ vàng 24K, 01 điện thoại Iphone 11, Hội đồng xét xử xét thấy việc chị T rút một phần yêu cầu khởi kiện là tự nguyện, phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự nên được chấp nhận.

Đối với yêu cầu khởi kiện của chị Hà Thị Cẩm T, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[4.1] Về tình cảm: Chị Hà Thị Cẩm T và anh Nguyễn Minh T1 cưới nhau năm 2022, do tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình. Chị T xin ly hôn với anh T1 với lý do bất đồng quan điểm trong cuộc sống vợ chồng, anh T1 rêu rao chị lấy cắp của gia đình anh T1 02 tờ vé số trúng độc đắc, anh T1 thường xuyên đánh chị trong lúc chị đang mang bầu và thường xuyên mắng nhiếc, sĩ vả chị, do chị đang mang bầu không thể sống nổi bên gia đình anh T1 nên đã về nhà chị sống và đã ly thân với anh T1 từ tháng 6/2023 đến nay. Tại phiên tòa, chị T xin vắng mặt và vẫn giữ yêu cầu ly hôn với anh T1; phía anh T1 đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa cho thấy anh T1 không có thành ý cứu vãn cuộc hôn nhân giữa anh chị. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị T và anh T1 không thể hàn gắn được, đời sống chung không thể tiếp tục kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin được ly hôn của chị Hà Thị Cẩm T là phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân gia đình.

Về con chung: Đối với yêu cầu nuôi cháu Nguyễn Minh T2, sinh ngày 22/7/2023 của chị T, Hội đồng xét xử xét thấy: Hiện tại cháu T2 đang sống với chị T đã ổn định về chỗ ở, về tâm lý và cháu T2 dưới 36 tháng tuổi cần được giao cho mẹ trực tiếp nuôi. Phía anh T1 không có văn bản trình bày ý kiến về việc nuôi con chung cho thấy anh T1 đã từ bỏ quyền yêu cầu của mình. Do đó, Hội đồng xét xử giao cháu T2 cho chị T nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi cháu T2 mỗi tháng 1.500.000 đồng, Hội đồng xét xử xét thấy: Chị T là người trực tiếp nuôi cháu T2 và anh T1 là người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho

- 4 -

con. Tại phiên tòa anh T1 vắng mặt, tuy nhiên căn cứ vào thu nhập của anh T1 và căn cứ vào nhu cầu thiết yếu của cháu T2 thì mức cấp dưỡng chị T yêu cầu có có cơ sở chấp nhận và buộc anh T1 có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu T2 mỗi tháng 1.500.000 đồng là phù hợp với Điều 110, Điều 116 của Luật hôn nhân và gia đình.

Về tài sản chung: Chị T không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về nợ chung: Chị T khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị Hà Thị Cẩm T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.

Anh Nguyễn Minh T1 phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con.

Xét ý kiến và đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1, khoản 5 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 228, Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Căn cứ vào Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 110, Điều 116, Điều 117 Luật hôn nhân gia đình.

- Căn cứ vào điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Xử:

1. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung của chị Hà Thị Cẩm T đối với 01 đôi bông cưới 01 chỉ vàng 24K, 01 lắc tay 03 chỉ vàng 24K, 01 kiềng tay 02 chỉ vàng 24K, 01 dây chuyền 04 chỉ vàng 24K, 01 điện thoại Iphone 11.

2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hà Thị Cẩm T.

Về tình cảm: Chị Hà Thị Cẩm T được ly hôn với anh Nguyễn Minh T1.

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Minh T2, sinh ngày 22/7/2023 cho chị Hà Thị Cẩm T nuôi dưỡng cho đến khi cháu T2 đủ 18 tuổi, lao động được.

Buộc anh Nguyễn Minh T1 có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Nguyễn Minh T2, sinh ngày 22/7/2023 mỗi tháng 1.500.000 đồng. Thực hiện khi án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu T2 đủ 18 tuổi, lao động được.

Kể từ ngày chị Hà Thị Cẩm T có đơn yêu cầu thi hành án nếu anh Nguyễn Minh T1 không chịu thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con thì hàng tháng anh T1

- 5 -

còn phải chịu thêm tiền lãi tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

Anh Nguyễn Minh T1 được quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung sau khi ly hôn. Trường hợp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện theo quy định tại Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình.

Về án phí: Chị Hà Thị Cẩm T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm; được trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0011674 ngày 02/10/2023 và 862.500 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0011675 ngày 02/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện G, do vậy chị T được hoàn lại 862.500 đồng.

Buộc anh Nguyễn Minh T1 phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.

Báo nguyên đơn và bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ