vanban.org

Bản án 10/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn"
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN D K
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 29/3/2024
V/v: “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HUYỆN D K - KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hoa

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thành

Ông Phạm Hùng Cường.

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Tuyết - Thư ký Tòa án nhân dân huyện

D K, tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện D K, tỉnh Khánh Hòa tham gia

phiên toà: Ông Bùi Nguyên Huy - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện huyện D K,

tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số:

332/2023/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 10 năm 2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết

định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 3 năm 2024

và Quyết định hoãn phiên tòa: 11/2024/QĐST-HNGĐ ngày 25 tháng 3 năm 2024,

giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Bà Hồ Thị Thu L - sinh năm 2004;

Địa chỉ: Thôn Xuân Đ, xã Diên X, huyện D K, Khánh Hòa.

Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt)

* Bị đơn: Ông Lê Trung H - sinh năm 1994;

Địa chỉ: Thôn Cư Th, xã Suối H, huyện D K, Khánh Hòa.

Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện đề ngày 10 tháng 10 năm 2023 và các lời khai trong

quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Hồ Thị Thu L trình bày:

Bà và ông Lê Trung H tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn

tại Ủy ban nhân dân xã Suối H vào năm 2022. Sau khi kết hôn bà và ông H chung

sống với nhau tại nhà cha mẹ chồng ở xã Suối H, D K. Trong quá trình chung sống

giữa bà và ông H thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do quan điểm sống không hòa

hợp dẫn đến vợ chồng hay cãi vã, ông H không có trách nhiệm vợ con, đã vậy ông

H còn có hành vi ép buộc bà quan hệ tình dục không mong muốn, ông H còn sử dụng chất gây nghiện. Nhiều lần bà đã cho cơ hội nhưng ông H vẫn không thay đổi. Bà không thể tiếp tục chung sống với ông H được nữa nên bà đã bỏ về nhà cha mẹ mình ở Diên X sống từ tháng 8 năm 2023 cho đến nay. Nay bà xác định không còn tình cảm với ông H, vì vậy yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Hiếu để bà ổn định cuộc sống.

Về con chung: Có 01 con chung là Lê Hồ Bảo Nh, sinh ngày 12/01/2023. Bà

có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông Hiếu cấp dưỡng nuôi con vì công việc của bà thu nhập ổn định, đảm bảo khả năng nuôi dưỡng con tốt.

Về tài sản chung: Không có.

Về nợ chung: Không có.

- Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Lê Trung H đã được Tòa án triệu

tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt, không đến Tòa án làm việc, không có lời khai. Ông H vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện D K, tỉnh Khánh Hòa:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm

phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng, đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định pháp luật, bị đơn không có lời khai, không đến Tòa án làm việc.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82,

83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Hồ Thị Thu L đối với ông Lê Trung H. Về con chung: Giao con chung Lê Hồ Bảo Nh, sinh ngày 12/01/2023 cho bà L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; ghi nhận việc bà L tự nguyện không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con. Bà L xác định vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung nên không xét. Bà L phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

. Về thủ tục tố tụng: Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng

mặt lần thứ hai tại phiên tòa. Nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định pháp luật.

. Về quan hệ hôn nhân: Bà Hồ Thị Thu L và ông Lê Trung H tự nguyện

đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Suối H, huyện D K và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 36 vào ngày 07/7/2022 nên đây là hôn nhân hợp pháp.

Bà L xác định trong thời gian chung sống giữa bà và ông H thường xuyên

xảy ra mâu thuẫn do quan điểm sống không hòa hợp dẫn đến vợ chồng hay cãi vã, ông H không có trách nhiệm vợ con, đã vậy ông H còn có hành vi ép buộc bà quan hệ tình dục không mong muốn. Nhiều lần bà đã cho cơ hội nhưng ông H vẫn không thay đổi; hiện tại, bà không còn tình cảm với ông H; không thể tiếp tục duy

trì mối quan hệ hôn nhân. Quá trình giải quyết vụ án, ông H đã được Tòa án triệu

tập nhiều lần nhưng không đến Tòa án để làm việc điều này thể hiện ông H có thái

độ bỏ mặc, không quan tâm đến quan hệ vợ chồng, không muốn hàn gắn đoàn tụ.

Như vậy, có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa bà L và ông H đã lâm vào tình

trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân không

đạt được nên căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, cần chấp nhận yêu cầu

khởi kiện ly hôn của nguyên đơn.

. Về con chung: Bà L và ông H có 01 con chung là Lê Hồ Bảo Nh, sinh

ngày 12/01/2023. Hiện tại, con chung đang sinh sống với bà và bà có nguyện vọng

được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, xét thấy cần giao con chung cho bà L trực

tiếp nuôi dưỡng là phù hợp quy định pháp luật. Ghi nhận việc bà L tự nguyện

không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con chung.

. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Hồ Thị Thu L xác định vợ chồng

không có tài sản chung và nợ chung nên không giải quyết. Do bị đơn ông Lê Trung

H chưa có lời khai về vấn đề này nên nếu sau này đương sự có yêu cầu sẽ giải

quyết bằng một vụ án khác.

. Về án phí: Bà Hồ Thị Thu L phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ

thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 147, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật hôn

nhân và gia đình;

Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của

Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và

sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bà

Hồ Thị Thu L được ly hôn với ông Lê Trung H.

2. Về con chung: Bà L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục

con chung là Lê Hồ Bảo Nh, sinh ngày 12/01/2023 cho đến khi con chung đủ 18

tuổi. Ghi nhận việc bà Linh tự nguyện không yêu cầu ông Hiếu cấp dưỡng nuôi

con. Ông H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.

Quá trình nuôi dưỡng con chung, bà L, ông H có quyền yêu cầu Tòa án có

thẩm quyền giải quyết về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn; thay đổi cấp

dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Hồ Thị Thu L xác định vợ chồng không

có tài sản chung và nợ chung nên không giải quyết. Do bị đơn ông Lê Trung H

chưa có lời khai về vấn đề này nên nếu sau này đương sự có yêu cầu sẽ giải quyết

bằng một vụ án khác.

4. Về án phí: Bà Hồ Thị Thu L phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án

phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) mà bà L đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện D K, tỉnh Khánh Hòa theo biên lai thu tiền số AA/2022/0004327 ngày 24/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện D K. Bà L đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

5. Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi

hành án Dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

6. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án

trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ