vanban.org

Bản án 10/2024/DS-ST — Tranh chấp đất đai

TAND tỉnh Bạc Liêu Tuyên án 17/04/2024 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

01/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Võ Hồng Thiệp đòi ông Quách Thành

02/ Tuyên bố giao dịch cầm cố đất giữa ông Võ Hồng Thiệp với ông Quách 03/ Tuyên bố giao dịch chuyển nhượng QSD đất giữa ông Quách Thành Thắng Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp đất đai — án dân sự — "Khiều - Hùng"
  • Tòa quyết gì? 01/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Võ Hồng Thiệp đòi ông Quách Thành
  • Căn cứ chính? Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự đình chỉ; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2024/DS-ST
Ngày: 17 – 4 – 2024
V/v Tranh chấp quyền sử dụng
đất, hủy giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất và hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU

-Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Giang Thị Cẩm Thuý

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Thanh Hùng

Bà Đoàn Thị Thanh Phượng

- Thư ký phiên toà: Bà Võ Minh Thu - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bạc Liêu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Nhỏ - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 85/2023/TLST-DS ngày 08 tháng 11 năm 2023 về việc “tranh chấp quyền sử dụng đất, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2024/QĐXXST-DS ngày 30 tháng 01 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Trần Văn Kh, sinh năm 1968. Địa chỉ: Ấp L, xã Đ, huyện Đ, tỉnh B.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Trần Văn Kh: Ông Lê Hải L – Luật sư thuộc đoàn luật sư tỉnh Bạc Liêu.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Phú H, sinh năm 1967 và bà Bùi Thị Út M, sinh năm 1975. Cùng Địa chỉ: Ấp L, xã Đ, huyện Đ, tỉnh B.

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Nguyễn Phú H: Bà Bùi Thị Út M, sinh năm 1975. Địa chỉ: Ấp L, xã Đ, huyện Đ, tỉnh B.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1/ Bà Phạm Thị Ng, sinh năm 1974. Địa chỉ: Ấp L, xã Đ, huyện Đ, tỉnh B.

2/ Bà Đỗ Thị H, sinh năm 1969. Địa chỉ: Ấp L, xã Đ, huyện Đ, tỉnh B.

3/ Anh Nguyễn Phú C, sinh năm 1998.

Người đại diện theo ủy quyền của anh Nguyễn Phú C: Bà Bùi Thị Út M, sinh năm 1975.

Cùng địa chỉ: Ấp L, xã Đ, huyện Đ, tỉnh B.

4/ Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu. Địa chỉ: Ấp Gò Cát, xã Điền Hải, huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Tuấn K – chức vụ: Chủ tịch UBND huyện Đông Hải.

5/ Ông Lê Văn G, sinh năm 1939. Địa chỉ: Ấp L, xã Đ, huyện Đ, tỉnh B.

6/ Ông Lê Văn Đ, sinh năm 1970. Địa chỉ: 166/9D Xô Viết Nghệ T, Phường 26, quận B, thành phố Hồ Chí Minh.

(Ông Kh, bà M, bà Ng, bà H có mặt; Uỷ ban nhân dân huyện Đông H, ông Lê Hải L vắng mặt có đơn; ông G, ông Đ vắng mặt không lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Nguyên đơn ông Trần Văn Kh trình bày tại đơn khởi kiện, các lời khai: Nguồn gốc phần đất tranh chấp là của ông nhận chuyển nhượng từ ông Lê Văn G, cha của ông Lê Văn Đ vào năm 1997, diện tích chuyển nhượng không cụ thể nhưng có làm giấy tay mua bán đất do ông G và ông ký tên. Ông đã sử dụng đất từ năm 1997 đến nay. Năm 2005, ông Đ và ông làm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 23/6/2005 do đất là của ông G nhưng ông Đ là con trai đứng tên quyền sử dụng đất, diện tích đất nhận chuyển nhượng là 990m2, nhưng ông Đ không tách thửa chuyển tên quyền sử dụng đất cho ông theo hợp đồng mà chỉ chuyển tên cho 3 người ông chuyển nhượng lại cho họ, tổng diện tích là 561m2, còn lại diện tích 429m2 thì làm thủ tục chuyển quyền lại cho ông nhưng không chuyển được do cơ quan chuyên môn xác định đất nằm trong lộ giới, ông chỉ nghe nói miệng, không có gì chứng minh. Sau này, ông đi làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì cơ quan chuyên môn xác định là bà Bùi Thị Út M và ông Nguyễn Phú H đã làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Phần đất tranh chấp qua đo đạc thực tế là 493,6m2 tại Ấp L, xã Đ, huyện Đ, tỉnh B (trước đây ông yêu cầu là diện tích 620,6m2 tính từ tim lộ, chưa trừ lộ và bảo lưu lộ giới). Ông đã sử dụng từ năm 1997, đất này khi nhà nước múc làm lộ thì nó là con kênh, ông nhận chuyển nhượng của ông Lê Văn Đ và trong quá trình sử dụng ông đã đóng thuế đầy đủ. Tuy nhiên khi mua bán hai bên thì ông Đ chỉ chuyển quyền sử dụng đất cho ông phần đất từ mé lộ đổ ra sông còn phần đất tranh chấp là nằm trong giấy chứng nhận mà ông Đ chuyển nhượng cho ông Nguyễn Phú H nên ông Hùng làm trùm lên phần đất của ông. Năm 2016, ông chuyển nhượng phần đất có chiều ngang 9m, chiều dài 18m cho bà Phạm Thị Ng thì ông Hùng và bà M cản trở và can ngăn. Ông khởi kiện ông Hùng, bà M yêu cầu được công nhận phần đất sử dụng thực tế là 493,6 m2 và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hộ ông Nguyễn Phú H và bà Bùi Thị Út M giấy số AE 309932, thửa đất số 335 tờ bản đồ số 3 của Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp cho hộ ông Nguyễn Phú H và bà Bùi Thị Út M diện tích 493,6m2. Ngày 29/02/2024, ông Kh trực tiếp nộp đơn xin rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện đối với bị đơn ông Nguyễn Phú H, bà Bùi Thị Út M về việc tranh chấp quyền sử dụng đất và huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Đối với yêu cầu khởi kiện độc lập của bà Phạm Thị Ng thì ông đồng ý, do ông và vợ ông tên Đỗ Thị H có chuyển nhượng đất cho bà Ng chiều ngang là 9m và chiều dài 18m là 1 phần trong diện tích đất đang tranh chấp với bà M, ông Hùng, giá chuyển nhượng là 270.000.000 đồng, ông đã giao đất cho bà Ng sau khi nhận đủ tiền (năm 2016). Hiện nay bà Ng yêu cầu vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng phần đất, yêu cầu vợ chồng ông phải trả lại số tiền 270.000.000 đồng và 30.000.000 đồng tiền mua và vận chuyển cừ tràm thì ông đồng ý trả theo yêu cầu của bà Ng.

- Bị đơn bà Bùi Thị Út M, bà cũng là người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Nguyễn Phú H, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Phú C trình bày: Nguồn gốc phần đất tranh chấp là của vợ chồng bà nhận chuyển nhượng của ông Lê Văn G năm 1998 (đất do ông Lê Văn Đ là con của ông G đứng tên quyền sử dụng đất). Trước đó, năm 1996 thì ông G có cố phần đất cho vợ chồng bà, tuy nhiên 2 năm sau đó (năm 1998), ông G chuyển nhượng luôn phần đất với giá là 2 cây vàng, theo giấy mua bán là 4,5 công tầm lớn, tổng diện tích bao nhiêu vợ chồng bà cũng không nhớ rõ. Khi bà nhận chuyển nhượng đất xong thì ông Đ chưa chuyển quyền trên giấy tờ cho vợ chồng bà liền do giấy chứng nhận vẫn còn vay ngân hàng. Đến năm 2005 thì ông Đ mới làm thủ tục chuyển tên cho vợ chồng bà diện tích 5.773,2m2 tại thửa đất số 423 tách từ thửa 166 của ông Đ, đến năm 2008 thì vợ chồng bà được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chung với 2 diện tích đất của gia đình tại thửa số 335 tờ bản đồ số 3. Nay ông Kh yêu cầu công nhận diện tích đất theo đo đạc thực tế là 493,6m2 tại Ấp L, xã Đ, huyện Đ, tỉnh B và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của vợ chồng bà thì vợ chồng bà không đồng ý do đất là của vợ chồng bà. Đối với yêu cầu bà Phạm Thị Ng thì bà không ý kiến.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên bà Phạm Thị Ng trình bày: Năm 2016, bà có nhận chuyển nhượng phần đất của ông Trần Văn Kh và bà Đỗ Thị H chiều ngang 9m, chiều dài 18m với giá 270.000.000 đồng, chỉ làm giấy tay với nhau và bà đã giao đủ số tiền 270.000.000 đồng cho ông Kh, bà H. Tuy nhiên do tin tưởng ông Kh thông qua người thân giới thiệu, ông Kh cam kết sẽ làm thủ tục chuyển tên quyền sử dụng đất cho bà nên bà không tìm hiểu kỹ là đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hay chưa. Đến năm 2020, bà sử dụng đất xây nhà thì bà M và ông Hùng cản trở nên bà mới biết phần đất bà nhận chuyển nhượng hiện nay ông Kh và ông Hùng đang xảy ra tranh chấp. Vì thời gian quá lâu mà ông Kh, bà H vẫn chưa làm thủ tục chuyền quyền sử dụng đất cho bà như thỏa thuận chuyển nhượng nên bà yêu cầu vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng phần đất chiều ngang là 9m, chiều dài 18m; yêu cầu ông Kh, bà H trả lại 270.000.000 đồng và 30.000.000 đồng tiền mua, vận chuyển cừ tràm, tổng cộng là 300.000.000 đồng. Bà không yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đỗ Thị H trình bày: Bà thống nhất lời trình bày của chồng bà là ông Trần Văn Kh, bà thừa nhận có cùng ông Kh chuyển nhượng cho bà Ng phần đất chiều ngang là 9m, chiều dài 18m trong diện tích đất tranh chấp với giá 270.000.000 đồng, vợ chồng bà đã nhận đủ tiền. Hiện nay bà Ng yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và yêu cầu trả lại 300.000.000 đồng thì bà đồng ý.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn G trình bày: Ngày 26/3/1999 ông có sang phần đất của ông cho ông Nguyễn Phú H. Theo giấy sang nhượng trên thì ông sang cho ông Hùng diện tích là 4,5 công tầm lớn, chiều dài cập cô hai Chuyền 30 tầm lớn dài đến đê, chiều ngang cập anh hai Đen 24 tầm, chiều dài giáp bác sáu Nhỏ là 28 tầm đụng tới mé kênh. Từ mé bờ ngang đổ lên thì không sang cho ai. Phần đất tranh chấp giữa ông Kh với ông Hùng là con sông múc làm lộ. Ông Trần Văn Kh đã sử dụng từ năm 1997 để đặt lú. Phần đất tranh chấp trên ông không sang cho ông Hùng hay ông Kh nhưng ông có nói miệng là cho ông Kh một phần lấy từ phía kênh đến cô hai Chuyền được lấy con kênh là 11,5 tầm.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Hoàng Đ trình bày: Ông thừa nhận có chuyển nhượng đất cho ông Trần Văn Kh và ông Nguyễn Phú H, lúc chuyển nhượng thì con lộ đã có và con sông để bảo lưu lộ. Ông chuyển nhượng cho ông Kh tính từ mé lộ chạy ngược ra sông lớn, còn chuyển nhượng cho ông Hùng là từ mé kinh ngang hiện là bờ đước ngược lên 4,5 công tầm lớn. Ông xác định phần con sông mà hai bên đang tranh chấp ông không chuyển nhượng cho ông Kh hay ông Hùng, đất trước đây là của ông nhưng khi nhà nước múc kênh để làm lộ thì ông đồng ý, hiện nay phần con kênh đó là của nhà nước nên ông không liên quan đến tranh chấp của ông Kh với ông Hùng. Phần đất là của ông G là cha ông nhưng do ông đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông đồng ý việc chuyển nhượng của ông G. Ông Kh sử dụng từ khi múc kênh đến nay, đặc lú để kiếm cá, tôm, ông không chuyển nhượng phần đất này cho ai. Hiện nay phần con kênh này khoảng hơn 20 mấy mét thì mỗi bên sử dụng phân nữa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Uỷ ban nhân dân huyện Đ do người đại diện trình bày: Trong bản vẽ đất tranh chấp giữa ông Trần Văn Kh và ông Nguyễn Phú H do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai lập ngày 12/01/2021, tổng diện tích 127m2, đất tọa lạc tại Ấp L, xã Đ, huyện Đ, tỉnh B. Theo bản đồ chính quy thuộc đường An Trạch - Định Thành - An Phúc - Gành Hào theo Quyết định số 1775/QDD-UBND, ngày 18/8/2009 của UBND tỉnh Bạc Liêu về việc phê duyệt Quy hoạch phát triển giao thông vận tải đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2025. Về trình tự thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Nguyễn Phú H và bà Bùi Thị Út M được Uỷ ban nhân dân huyện Đông Hải cấp lại, cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa đất như sau: thửa đất số 335, tờ bản đồ số 03, loại đất ở tại nông thôn và đất nuôi trồng thủy sản, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H02739 được UBND huyện Đông Hải ký duyệt vào ngày 01/3/2008. Việc hộ ông Nguyễn Phú H và bà Bùi Thị Út M cấp lại, cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là đúng theo quy định của pháp luật tại thời điểm cấp.

Tại phiên toà:

Nguyên đơn ông Trần Văn Kh xin rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện đối với bị đơn ông Nguyễn Phú H, bà Bùi Thị Út M theo đơn xin rút đơn khởi kiện đề ngày 28/02/2024, đối với yêu cầu của bà Phạm Thị Ng thì ông đồng ý, không còn ý kiến, yêu cầu nào khác.

Bị đơn bà Bùi Thị Út M và cũng là người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn ông Nguyễn Phú H, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Phú C thống nhất với yêu cầu rút đơn khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Văn Kh, không còn ý kiến, yêu cầu nào khác.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên bà Phạm Thị Ng giữ nguyên yêu cầu độc lập, không có ý kiến về việc ôn Khiều rút yêu cầu khởi kiện đối với ông Hùng, bà M.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu phát biểu quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán được phân công Gi quyết vụ án đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân theo đúng các quy định của pháp luật về việc xét xử vụ án sơ thẩm. Các đương sự đã thực hiện đúng và đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Đề nghị đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn Kh đòi ông Nguyễn Phú H và bà Bùi Thị Út M trả lại diện tích đất qua đo đạc thực tế 493,6m2 thuộc thửa đất số 335, tờ bản đồ 03 được cấp giấy chứng nhận cho hộ ông Nguyễn Phú H và bà Bùi Thị Út M ngày 01/9/2008; Công nhận sự thỏa thuận giữa ông Trần Văn Kh, bà Đỗ Thị H với bà Phạm Thị Ng về tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 07/3/2016 giữa ông Trần Văn Kh, bà Đỗ Thị H với bà Phạm Thị Ng là vô hiệu và ông Kh, bà H thỏa thuận trả cho bà Ng số tiền 300.000.000 đồng nên buộc ông Trần Văn Kh, bà Đỗ Thị H có trách nhiệm hoàn trả cho bà Phạm Thị Ng số tiền 300.000.000 đồng. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: ông Trần Văn Kh phải chịu toàn bộ theo quy định của pháp luật. Về án phí: ông Trần Văn Kh phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ yêu cầu của đương sự tại phiên toà, ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Về thẩm quyền giải quyết vụ án và quan hệ tranh chấp: Nguyên đơn ông Trần Văn Kh yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất và hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AE 309932, thửa đất số 335 tờ bản đồ số 3 do Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp cho hộ ông Nguyễn Phú H và bà Bùi Thị Út M nên căn cứ khoản 9 Điều 26, Điều 34, điểm a khoản 1 Điều 37 và Điều 39 Bộ luật TTDS năm 2015, Tòa án nhân dân huyện Đông Hải chuyển vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu thụ lý, giải quyết về tranh chấp quyền sử dụng đất, huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là đúng thẩm quyền.

Về người tham gia tố tụng: Nguyên đơn ông Trần Văn Kh khởi kiện bị đơn ông Nguyễn Phú H, bà Bùi Thị Út M về tranh chấp quyền sử dụng đất và huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 493,6m2 tại thửa đất số 335, tờ bản đồ số 3. Ngày 29/02/2024, ông Trần Văn Kh nộp đơn đề ngày 28/02/2024 có nội dung xin rút lại toàn bộ yêu cầu khởi kiện đối với ông Nguyễn Phú H và bà Bùi Thị Út M. Đồng thời, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị Ng có đơn khởi kiện yêu cầu độc lập đối với ông Trần Văn Kh, bà Đỗ Thị H về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất diện tích chiều ngang 9m chiều dài 18m lập ngày 07/3/2016 vẫn giữ nguyên yêu cầu. Do đó, địa vị tố tụng của các đương sự có sự thay đổi theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự, cụ thể: ông Kh rút đơn yêu cầu khởi kiện đối với với ông Hùng và Mừng nhưng bà Ng vẫn giữ nguyên yêu cầu độc lập đối với ông Kh nên bà Ng trở thành nguyên đơn, ông Trần Văn Kh, bà Đỗ Thị H trở thành bị đơn, ông Nguyễn Phú H, bà Bùi Thị Út M trở thành người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án và qaun hệ tranh chấp là tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Ng với ông Kh, bà H.

Tại phiên tòa, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân huyện Đ, ông Lê Hải Lâm có yêu cầu xét xử vắng mặt; ông Lê Văn G, ông Lê Văn Đ đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do, không thuộc trường hợp trở ngại khách quan, sự kiện bất khả kháng nên căn cứ Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên.

Về nội dung vụ án:

Xét yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn Kh đối với ông Nguyễn Phú H, bà Bùi Thị Út M:

Ông Kh khởi kiện yêu cầu ông Hùng, bà M trả lại diện tích đất 636m2, qua đo đạc thực tế là 493,6m2 tại thửa đất số 335, tờ bản đồ số 3 và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AE 309932, thửa đất số 335, tờ bản đồ số 3 diện tích 493,6m2 do Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp cho hộ ông Nguyễn Phú H và bà Bùi Thị Út M. Ngày 28/02/2024, ông Trần Văn Kh có đơn xin rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện đối với bị đơn ông Nguyễn Phú H, bà Bùi Thị Út M. Tại phiên toà, ông Trần Văn Kh vẫn giữ nguyên yêu cầu xin rút đơn khởi kiện và xác định việc rút lại toàn bộ đơn khởi kiện đối với ông Nguyễn Phú H, bà Bùi Thị Út M là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc. Bị đơn là ông Hùng, bà M không có yêu cầu phản tố và không có ý kiến gì. Do đó căn cứ điểm c khoản 1 Điều 217, khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự đình chỉ xét xử đối với yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn Kh đối với ông Nguyễn Phú H và bà Bùi Thị Út M đối với diện tích qua đo đạc thực tế 493,6m2 thuộc thửa đất số 335, tờ bản đồ số 3, toạ lạc tại Ấp L, xã Đ, huyện Đ, tỉnh B, nguyên đơn ông Trần Văn Kh không phải chịu án phí sơ thẩm đối với yêu cầu này.

Xét yêu cầu độc lập của bà Phạm Thị Ng đối với ông Kh, bà H về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất:

Bà Ng yêu cầu vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà với ông Trần Văn Kh và bà Nguyễn Thị Hồng lập ngày 07/3/2016 có diện tích ngang 09m, dài 18m với số tiền chuyển nhượng là 270.000.000 đồng, đất toạ lạc tại Ấp L, xã Đ, huyện Đ, tỉnh B nằm trong diện tích đất 493,6m2 thuộc thửa đất số 335, tờ bản đồ số 3 tranh chấp giữa ông Kh và ông Hùng, bà M. Bà Ng yêu cầu ông Kh, bà H trả số tiền 300.000.000 đồng bao gồm 270.000.000 đồng tiền chuyển nhượng đất và 30.000.000 đồng tiền mua, vận chuyển cừ tràm để làm nền nhà; không yêu cầu giải quyết hậu quả của việc hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất bị vô hiệu. Bà Ng xác định bà không quản lý, sử dụng phần đất nhận chuyển nhượng từ ông Kh, bà H mà ông Kh là người đang trực tiếp quản lý, sử dụng đất. Ông Kh, bà H thống với ý kiến và yêu cầu của bà Ng, không có ý kiến, yêu cầu nào khác.

Hội đồng xét xử xét thấy, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 07/3/2026 (bút lục 283) thể hiện nội dung ông Kh, bà H chuyển nhượng cho bà Ng diện tích đất ngang 09m, dài 18m với giá trị chuyển nhượng là 270.000.000 đồng. Thỏa thuận trong hợp đồng ông Kh bà H làm “bằng khoán đỏ” giao cho bà Ng. Nhận thấy, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được lập thành văn bản nhưng không có công chứng, chứng thực là vi phạm về hình thức theo quy định tại Điều 502 Bộ luật dân sự năm 2015. Mặt khác, ông Kh, bà H chưa được cơ quan có thẩm quyền công nhận và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất chuyển nhượng nên ông Kh, bà H không đủ điều khiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo điểm a khoản 1 Điều 188 Luật đất đai năm 2013. Do đó, bà Ng yêu cầu vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng lập ngày 07/3/2016 là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật. Ông Kh, bà H đều thừa nhận có việc chuyển nhượng đất như bà Ng trình bày và đồng ý vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và đồng ý trả cho bà Ng số tiền 300.000.000 đồng. Sự thống nhất thỏa thuận giữa bà Phạm Thị Ng với ông Trần Văn Kh và bà Đỗ Thị H là hoàn toàn tự nguyện và không trái quy định của pháp luật nên ghi nhận. Do dó, có căn cứ chấp nhận yêu cầu của bà Phạm Thị Ng đối với ông Trần Văn Kh, bà Đỗ Thị H tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 07/3/2016 giữa ông Trần Văn Kh, bà Đỗ Thị H với bà Phạm Thị Ng là vô hiệu. Buộc ông Trần Văn Kh, bà Đỗ Thị H có trách nhiệm hoàn trả cho bà Phạm Thị Ng số tiền 300.000.000 đồng.

Đối với hậu quả của hợp đồng chuyển nhương quyền sử dụng đất giữa bà Ng, ông Kh, bà H bị vô hiệu thì các bên thống nhất không yêu cầu giải quyết nên ghi nhận. Về diện tích đất chuyển nhượng các bên thống nhất ông Kh, bà H đang trực tiếp quản lý, sử dụng và không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử đình chỉ giải quyết yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn Kh đối với ông Nguyễn Phú H, bà Bùi Thị Út M; chấp nhận yêu cầu bà Phạm Thị Ng đối với ông Trần Văn Kh, bà Đỗ Thị H; xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu là phù hợp nên chấp nhận.

Án phí sơ thẩm: Theo quy định của pháp luật.

Về chi phí tố tụng: Tổng chi phí đo đạc, thẩm định và định giá đất tranh chấp là 1.886.000 đồng, ông Trần Văn Kh phải chịu và ông Kh đã dự nộp xong.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3, khoản 9 Điều 26, Điều 34, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 38, 101,104, 147, 157, Điều 165, điểm c khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 217 khoản 2 Điều 244, Điều 246 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 166, Điều 502 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 188, Điều 203 Luật đất đai năm 2013; Điều 26, Điều 27 Nghị Quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí:

Tuyên xử:

1. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn Kh đối với ông Nguyễn Phú H, bà Bùi Thị Út M về yêu cầu công nhận và huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích qua đo đạc thực tế 493,6m2, thuộc thửa đất số 335, tờ bản đồ 03 do Uỷ ban nhân dân huyện Đông Hải cấp giấy chứng nhận cho hộ ông Nguyễn Phú H và bà Bùi Thị Út M ngày 01/9/2008.

2. Công nhận sự thỏa thuận giữa ông Trần Văn Kh, bà Đỗ Thị H với bà Phạm Thị Ng về tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 07/3/2016 giữa ông Trần Văn Kh, bà Đỗ Thị H với bà Phạm Thị Ng là vô hiệu và ông Kh, bà H đồng ý trả cho bà Ng số tiền 300.000.000 đồng. Buộc ông Trần Văn Kh, bà Đỗ Thị H có trách nhiệm hoàn trả cho bà Phạm Thị Ng số tiền 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng).

Kể từ ngày người có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không tự nguyện thi hành khoản tiền nêu trên thì hàng tháng còn phải chịu lãi theo mức lãi suất phát sinh tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.

3. Về chi phí tố tụng: Tổng chi phí đo đạc, thẩm định và định giá đất tranh chấp là 1.886.000 đồng, ông Trần Văn Kh phải chịu và ông Kh đã dự nộp xong.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm:

4.1. Đối với yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn Kh: Ông Kh không phải chịu, ông Kh đã dự nộp tiền 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0007954 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Hải được hoàn lại đủ.

4.2. Đối với yêu cầu độc lập của bà Phạm Thị Ng: ông Trần Văn Kh, bà Đỗ Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự không giá ngạch; về án phí dân sự có giá ngạch ông Kh, bà H cùng phải chịu 15.000.000 đồng. Tổng án phí ông Kh, bà H phải chịu là 15.300.000 đồng, nộp tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bạc Liêu. Bà Ng không phải chịu án phí; bà Ng đã dự nộp số tiền 7.500.000 đồng theo Biên lai thu số 0002129 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Hải được hoàn lại đủ.

5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án dân sự, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

6. Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai, các đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ