vanban.org

Bản án 10/2023/HSST — Hình sự

TAND TP. Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên Tuyên án 08/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Cao Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”

Xử phạt: Bị cáo Cao Văn T 09 (chín) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 14/5/2022. Phạt tiền: đối với bị cáo 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cao Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Cao Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ TUY HÒA
TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2023/HSST
Ngày: 08/2/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Hưng

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Lê; Ông Lý Công Nguyên.

Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Thùy Trân - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Ông Lê Hồng Khoáng- Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 114/2022/TLST-HS ngày 02 tháng 12 năm 2022, đối với bị cáo:

Cao Văn T; Giới tính: Nam; sinh năm 1996 tại Phú Yên; Nơi cư trú: đường N, Phường B, thành phố T; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 8/12; Cha: Cao Văn V, sinh năm 1955; Mẹ: Nguyễn Thị N, sinh năm 1955; Có 04 anh, 01 chị; Vợ: Lý Thị Thu H, sinh năm 1997; có 02 con: sinh năm 2019 và 2021; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 14/5/2022 tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Tuy Hòa – có mặt tại phiên tòa.

- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Ông NLQ1, sinh năm 2000; Trú tại: đường M, phường N, thành phố T, tỉnh Phú Yên; Vắng mặt.

+ Anh NLQ2, sinh năm 2003; Trú tại: Thôn L, xã A, thành phố T, tỉnh Phú Yên; Vắng mặt.

+ Anh NLQ3, sinh năm 1989; Trú tại: đường T, phường M, thành phố T, tỉnh Phú Yên; Vắng mặt.

+ Anh NLQ4, sinh năm 1996; Trú tại: đường N, phường S, thành phố T, tỉnh Phú Yên; Vắng mặt.

+ Chị NLQ5, sinh năm 1997; Trú tại: đường P, phường M, thành phố T, tỉnh Phú Yên; Có mặt.

+ Anh NLQ6, sinh năm 1996; Trú tại: đường N, phường B, thành phố T, tỉnh Phú Yên; Vắng mặt.

+ Ông NLQ7, sinh năm 1968; Trú tại: đường N, phường B, thành phố T, tỉnh Phú Yên; Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 14/5/2022, trong khi Cao Văn T đang đi trên đường tại khu vực ngã tư đường T - D thuộc phường B, thành phố T, Cơ quan Công an nghi vấn T cất giấu trái phép chất ma túy nên tiến hành kiểm tra thì phát hiện bên trong túi quần Jean phía trước bên trái T đang mặc có cất giấu 04 bì nilon chứa 0,638 gam ma tuý loại Methamphetamine. Công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ số ma túy trên. Cùng ngày 14/5/2022, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của T tại địa chỉ đường N, phường B, thành phố T thì phát hiện T có cất giấu 02 bì nilon chứa 0,335 gam ma tuý loại Methamphetamine, Cơ quan điều tra đã thu giữ số lượng ma túy này cùng các vật dụng như cân tiểu ly, các bì nilon được hàn kín một đầu và một số đồ vật khác.

Qua điều tra, Cao Văn T khai nhận số ma tuý nêu trên là ma tuý đá, trước đó T mua của 02 đối tượng tên là Bảo và Tâm (không rõ lai lịch, địa chỉ) về phân nhỏ ra mục đích để bán cho người khác kiếm lời.

Quá trình điều tra xác định, T đã nhiều lần mua bán trái phép chất ma tuý trước đó, cụ thể như sau:

Vào buổi chiều một ngày đầu năm 2022 (không nhớ ngày, tháng cụ thể) tại nhà của Cao Văn T ở địa chỉ đường N, phường B, T bán cho NLQ2 01 gói ma túy đá với giá 300.000 đồng.

Vào khoảng 11 giờ ngày 13/5/2022, tại nhà của T ở địa chỉ đường N, phường B, T bán cho NLQ3 01 gói ma túy đá với giá 300.000 đồng. Trong buổi trưa cùng ngày, T bán cho NLQ4 01 gói ma túy đá với giá 200.000 đồng, việc giao nhận ma túy diễn ra tại nhà của T. Tiếp đến khoảng 20 giờ cùng ngày, T bán cho NLQ1 01 gói ma túy đá với giá 300.000 đồng, giao nhận ma túy tại nhà của T.

Tại Bản Cáo trạng số: 102/CT-VKS ngày 02/12/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa đã truy tố Cao Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

* Tại phiên tòa:

- Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa luận tội: Giữ nguyên quyết định truy tố. Sau khi phân tích hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo; đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Cao Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm b, khoản 2, Điều 251; điểm s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Cao Văn T từ 09 năm tù đến 10 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 14/5/2022.

- Hình phạt bổ sung phạt bị cáo từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 BLTTHS, đề nghị Hội đồng xét xử: Tịch thu tiêu hủy: 0,815 gam ma túy loại Methamphetamin còn lại sau giám định, 01 hũ thủy tinh gắn thân chai nhựa, đầu thân chai nhựa có nắp nhựa màu đỏ gắn 01 ống hút nhựa màu trắng và 01 ống thủy tinh có 01 đầu hình cầu, 01 bì nilon bên trong đựng thẻ ngân hàng Vietcombank tên Huynh Ngoc L, tên Le Duc T, ngân hàng Đông Á tên Nguyen van T; 01 chai nhựa hiệu Sting nắp nhựa màu trắng bên trong chứa chất lỏng, 01 thẻ nhựa Mobifone, 02 bì nilon trong suốt, 04 hộp quẹt ga, 01 ống thủy tinh, 01 miếng nhựa được hàn dính 01 đầu, 03 bì nhựa được hàn kín, 01 hộp nhựa bên trong có: 01 ống hút màu đen, 01 ống hút màu trắng, 04 túi nhựa; 02 tấm bìa nhựa trong suốt, 01 cân tiểu ly, 03 kéo bằng kim loại, 01 miếng nhựa, 02 túi nhựa vuốt kín, 01 hộp giấy, 01 bì nilon bên trong đựng 03 ống hút màu trắng, 01 đao tự chế, 01 cây kim loại có 03 mũi nhọn, 01 bình khò có chữ peace world.

Trả lại cho chị NLQ5 số tiền 2.000.000 đồng và 01 điện thoại hiệu Samsung; Trả lại cho ông NLQ7 01 xe máy biển số 78C1- 444.33; Trả lại cho bị cáo Cao Văn T 01 điện thoại hiệu Redmi; Tịch thu sung quỹ số tiền 2.326.000 đồng và 01 điện thoại bàn phím hiệu Nokia của bị cáo Cao Văn T.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Tuy Hòa, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Cao Văn T đã khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản thu giữ vật chứng, kết luận giám định và các chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 14/5/2022, tại khu vực ngã tư đường T - D thuộc phường B, thành phố T, Cơ quan Công an tiến hành kiểm tra thì phát hiện bên trong túi quần Jean phía trước bên trái T cất giấu 04 bì nilon chứa 0,638 gam ma tuý loại Methamphetamine. Công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ số ma túy trên. Cùng ngày 14/5/2022, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của T tại địa chỉ đường N, phường B, thành phố T phát hiện T cất giấu 02 bì nilon chứa 0,335 gam ma tuý loại Methamphetamine cùng các vật dụng như cân tiểu ly, các bì nilon được hàn kín một đầu và một số đồ vật khác.

Qua điều tra, Cao Văn T khai nhận số ma tuý nêu trên là ma tuý đá, trước đó T mua của 02 đối tượng tên là B và T (không rõ lai lịch, địa chỉ) về phân nhỏ ra mục đích để bán cho người khác kiếm lời.

Quá trình điều tra xác định, T đã nhiều lần mua bán trái phép chất ma tuý trước đó, cụ thể như sau:

Vào buổi chiều một ngày đầu năm 2022 (không nhớ ngày, tháng cụ thể) tại nhà của Cao Văn T ở địa chỉ đường N, phường B, T bán cho NLQ2 01 gói ma túy đá với giá 300.000 đồng.

Vào khoảng 11 giờ ngày 13/5/2022, tại nhà của T ở địa chỉ đường N, phường B, T bán cho NLQ3 01 gói ma túy đá với giá 300.000 đồng. Trong buổi trưa cùng ngày, T bán cho NLQ4 01 gói ma túy đá với giá 200.000 đồng, việc giao nhận ma túy diễn ra tại nhà của T. Tiếp đến khoảng 20 giờ cùng ngày, T bán cho NLQ1 01 gói ma túy đá với giá 300.000 đồng, giao nhận ma túy tại nhà của T.

Hành vi của bị cáo Cao Văn T đủ yếu tố cấu thành tội:“Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b, khoản 2, Điều 251 Bộ luật hình sự. Bản Cáo trạng số: 102/CT-VKS ngày 02/5/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa đã truy tố Cao Văn T đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất hành vi phạm tội bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo T là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo vì động cơ thu lợi trái pháp luật đã bất chấp pháp luật mua bán trái phép ma túy nhiều lần. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm chính sách độc quyền quản lý nhà nước về các chất ma túy mà còn xâm phạm đến an ninh, trật tự xã hội làm gia tăng các tệ nạn xã hội. Vì vậy, đối với bị cáo cần phải xử lý nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo. Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự nên cần giảm nhẹ một phần hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật hình sự Việt Nam mà yên tâm cải tạo trở thành người có ích cho xã hội.

Đối với Bị cáo cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ biên bản giao nhận vật chứng ngày 05 tháng 12 năm 2022 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Tuy Hòa và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Tuy Hòa và Biên lai thu tiền 0002484 ngày 05/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuy Hòa.

Tịch thu tiêu hủy: 0,815 gam ma túy loại Methamphetamin còn lại sau giám định, 01 hũ thủy tinh gắn thân chai nhựa, đầu thân chai nhựa có nắp nhựa màu đỏ gắn 01 ống hút nhựa màu trắng và 01 ống thủy tinh có 01 đầu hình cầu, 01 bì nilon bên trong đựng thẻ ngân hàng Vietcombank tên Huynh Ngoc L, tên Le Duc T, ngân hàng Đông Á tên Nguyen van T; 01 chai nhựa hiệu Sting nắp nhựa màu trắng bên trong chứa chất lỏng, 01 thẻ nhựa Mobifone, 02 bì nilon trong suốt, 04 hộp quẹt ga, 01 ống thủy tinh, 01 miếng nhựa được hàn dính 01 đầu, 03 bì nhựa được hàn kín, 01 hộp nhựa bên trong có: 01 ống hút màu đen, 01 ống hút màu trắng, 04 túi nhựa; 02 tấm bìa nhựa trong suốt, 01 cân tiểu ly, 03 kéo bằng kim loại, 01 miếng nhựa, 02 túi nhựa vuốt kín, 01 hộp giấy, 01 bì nilon bên trong đựng 03 ống hút màu trắng, 01 đao tự chế, 01 cây kim loại có 03 mũi nhọn, 01 bình khò có chữ peace world.

Trả lại cho chị NLQ5 số tiền 2.000.000 đồng và 01 điện thoại hiệu Redmi; Trả lại cho ông NLQ7 01 xe máy biển số 78C1- 444.33; Trả lại cho bị cáo Cao Văn T 01 điện thoại hiệu Samsung; Tịch thu sung quỹ số tiền 2.326.000 đồng và 01 điện thoại bàn phím hiệu Nokia của bị cáo Cao Văn T.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Cao Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”

Áp dụng điểm b, khoản 2, 5 Điều 251, điểm s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự.

2. Xử phạt: Bị cáo Cao Văn T 09 (chín) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 14/5/2022.

3. Phạt tiền: đối với bị cáo 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng.

4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1, Điều 47 BLHS và Điều 106 BLTTHS.

Tịch thu tiêu hủy: 0,815 gam ma túy loại Methamphetamin còn lại sau giám định, 01 hũ thủy tinh gắn thân chai nhựa, đầu thân chai nhựa có nắp nhựa màu đỏ gắn 01 ống hút nhựa màu trắng và 01 ống thủy tinh có 01 đầu hình cầu, 01 bì nilon bên trong đựng thẻ ngân hàng Vietcombank tên Huynh Ngoc L, tên Le Duc T, ngân hàng Đông Á tên Nguyen van T; 01 chai nhựa hiệu Sting nắp nhựa màu trắng bên trong chứa chất lỏng, 01 thẻ nhựa Mobifone, 02 bì nilon trong suốt, 04 hộp quẹt ga, 01 ống thủy tinh, 01 miếng nhựa được hàn dính 01 đầu, 03 bì nhựa được hàn kín, 01 hộp nhựa bên trong có: 01 ống hút màu đen, 01 ống hút màu trắng, 04 túi nhựa; 02 tấm bìa nhựa trong suốt, 01 cân tiểu ly, 03 kéo bằng kim loại, 01 miếng nhựa, 02 túi nhựa vuốt kín, 01 hộp giấy, 01 bì nilon bên trong đựng 03 ống hút màu trắng, 01 đao tự chế, 01 cây kim loại có 03 mũi nhọn, 01 bình khò có chữ peace world.

Trả lại cho chị NLQ5 số tiền 2.000.000 đồng và 01 điện thoại hiệu Redmi; Trả lại cho bị cáo Cao Văn T 01 điện thoại hiệu Samsung; Tịch thu sung quỹ số tiền 2.326.000 đồng và 01 điện thoại bàn phím hiệu Nokia của bị cáo Cao Văn T.

Trả cho ông NLQ7 01 xe máy biển số 78C1- 444.33.

Tất cả các vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 05 tháng 12 năm 2022 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Tuy Hòa và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Tuy Hòa và Biên lai thu tiền số 0002484 ngày 05/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên và phiếu nộp tiền của Cơ quan Cảnh sát điều tra.

5. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí Tòa án.

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

6. Quyền kháng cáo: Bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Cỡ chữ