- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thanh Quý - cùng đồng bọn - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thanh Q, Trần Thanh Đ, Nguyễn Văn P, Phạm Ngọc H và Nguyễn Y phạm tội: “Đánh bạc".
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KBANG TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:10/2023/HSST. Ngày: 27/3/2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KBANG -TỈNH GIA LAI
- Thẩm phán-Chủ toạ phiên toà (CTPT): Ông Lê Văn Nguyên.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lê – Thư ký Tòa án nhân dân (TAND) huyện Kbang, tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) huyện Kbang, tỉnh Gia Lai tham gia phiên toà: Ông Nông Trường Sinh - Kiểm sát viên.
Ngày 27/3/2023, tại trụ sở TAND huyện Kbang, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 06/2023/HS-ST ngày 13/3/2023 theo thủ tục rút gọn đối với các bị cáo:
1.Nguyễn Thanh Q, sinh năm 1972 tại: Quảng Ngãi; hộ khẩu thường trú (HKTT): Thôn 2, xã Nghĩa An, huyện Kbang, tỉnh Gia Lai; trình độ học vấn: 8/12; nghề nghiệp: Làm nông; tiền án, tiền sự: Không; con ông Nguyễn Thanh Hồng và bà Phạm Thị Gìn; vợ là Bùi Thị Hạnh và 03 con; bị tạm giữ từ ngày 01/02/2023 đến ngày 10/02/2023 được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
2. Trần Thanh Đ, sinh năm 1983 tại: Kbang, Gia Lai; HKTT: Thôn 2, xã Nghĩa An, huyện Kbang, tỉnh Gia Lai; trình độ học vấn: 10/12; nghề nghiệp: Làm nông; tiền án, tiền sự: Không; con ông Trần Văn Đồng (đã chết) và bà Bùi Thị Hạnh; bị tạm giữ từ ngày 01/02/2023 đến ngày 10/02/2023 được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
3. Nguyễn Văn P, sinh năm 1989 tại: Kbang, Gia Lai; HKTT: Thôn 2, xã Nghĩa An, huyện Kbang, tỉnh Gia Lai; trình độ học vấn: 10/12; nghề nghiệp: Làm nông; tiền án, tiền sự: Không; con ông Nguyễn Văn Lộc và bà Trần Thị Trọng; vợ là Nguyễn Thị Hồng và 03 con; bị tạm giữ từ ngày 01/02/2023 đến ngày 10/02/2023 được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
4. Phạm Ngọc H, sinh năm 1994 tại: Kbang, Gia Lai; HKTT: Thôn 2, xã Nghĩa An, huyện Kbang, tỉnh Gia Lai; chỗ ở hiện nay: Khu phố 7, phường Tân Thới Nhất, quận 12, thành phố Hồ Chí Minh; trình độ học vấn: 8/12; nghề nghiệp: Cơ khí; tiền án, tiền sự: Không; con ông Phạm Văn Văn và bà Đỗ Thị Mỹ Hoa; vợ là Nguyễn Thị Bích Vân và 02 con; bị tạm giữ từ ngày 01/02/2023 đến ngày 10/02/2023 được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
5. Nguyễn Y, sinh năm 1968 tại: Tư Nghĩa, Quảng Ngãi; HKTT: Thôn 2, xã Nghĩa An, huyện Kbang, tỉnh Gia Lai; trình độ học vấn: 6/12; nghề nghiệp: Làm nông; tiền án, tiền sự: Không; con ông Nguyễn Xin và bà Lê Thị Ngọt (đã chết); vợ là Nguyễn Thị Thuận và 04 con; bị cáo được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
Người làm chứng:
1.Anh Trương Quốc H, sinh năm 1989 (vắng mặt);
2.Anh Lê Văn T, sinh năm 1987 (vắng mặt);
3.Anh Bùi Thanh L, sinh năm 1982 (vắng mặt);
Cùng địa chỉ: Thôn 2, xã N, huyện K, tỉnh G.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tối ngày 31/01/2023, Trần Thanh Đ, Nguyễn Văn P, Phạm Ngọc H, Nguyễn Thanh Q và anh Trương Quốc H cùng trú tại thôn 2, xã Nghĩa An, huyện Kbang, tỉnh Gia Lai đi bộ đến nhà Nguyễn Y tại thôn 2, xã Nghĩa An chơi. Khoảng 20 giờ cùng ngày, Q rủ Đ, P, H qua nhà ông Nguyễn Xin (cha ruột của Y) tại thôn 2, xã Nghĩa An để thắp hương (ông Xin bị điều trị bệnh tại thành phố Hồ Chí Minh nên giao nhà cho Y quản lý) và rủ đánh bài thắng thua bằng tiền thì Đ, P, H đồng ý tham gia.
Q nói Y lấy 02 bộ bài tú lơ khơ khác loại để đánh bài nên Y cầm bài qua nhà ông Xin. Tại phòng khách nhà ông Xin có để sẵn một tấm nệm màu xanh trải ở nền nhà trước cửa phòng ngủ nên Q, Đ, P và H ngồi trên nệm theo vị trí Đ ngồi gần cửa ra vào bên hông phòng khách, bên phải Đ là Q, bên trái Đ là H, đối diện Đ là P, H chỉ ngồi xem. Q, Đ, H và P đánh bạc bằng bài tú lơ khơ 52 lá bài dưới hình thức “binh xập xám”.
Luật chơi quy định như sau: Mỗi trụ có 13 quân bài chia làm ba chi, chi đầu và chi hai có 5 quân bài, chi cuối 3 quân bài. Sắp xếp chi trước mạnh hơn chi sau, ngược lại thì bài người đó bị lủng, sau đó so sánh với những người còn lại theo từng chi. Ai chơi thắng được nhiều chi nhất sẽ thắng. Giá trị quân bài sẽ được sắp xếp theo số thứ tự tăng dần như sau: 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, J (bồi), Q (đầm), K (già), A (át) và bốn chất bài: Bích, chuồn, rô, cơ. Độ mạnh từng chi theo thứ tự:
- Mậu thầu (không có liên kết giữa các quân bài);
- Đôi là hai quân bài cùng số;
- Thủ là (Hai đôi và một quân bài dư, chi cuối không có);
- Sám (ba quân bài cùng số);
- Sảnh (năm quân bài có số liên tiếp nhau, chi cuối không có);
- Thùng (năm quân bài cùng chất cơ, rô, chuồn hoặc bích, chi cuối không có);
- Cù lũ (một sám và 01 đôi, chi cuối không có).
- Các trường hợp tính Mậu binh:
+ Tứ Q (bốn quân bài cùng số, chi cuối không có);
+ Thùng phá sảnh (dây đồng chất, chi cuối không có);
+ Lục phế Bôn (sáu đôi và dư một quân bài);
+ Ba cái thùng (gồm 3 thùng tại cả ba chi);
+ Ba sảnh (gồm 3 sảnh tại ba chi);
+ Năm đôi thông (năm đôi có số liên tiếp nhau).
Nếu gặp các trường hợp này (Mậu binh) thì người chơi sẽ thắng sẽ được 03 người còn lại chung tiền.
Nếu ai có hai chi lớn hơn người kia sẽ thắng số tiền 50.000 đồng, ván thắng nhiều nhất sẽ được 150.000 đồng. Nếu ai được Mậu binh hoặc một người ăn cả 03 người còn lại sẽ bỏ tiền xâu số tiền là 20.000 đồng, nếu không có tiền lẻ thì có thể bỏ tiền xâu từ 10.000 đồng đến 15.000 đồng; số tiền này sẽ được đưa cho ông Y để trả tiền bài, điện, nước uống. Sau khi thống nhất luật chơi thì Q cầm bài chia ván đầu tiên.
Khi bắt đầu chơi, bốn người mang theo số tiền đánh bạc gồm: Q là 900.000 đồng, P là 1.705.000 đồng, H là 1.900.000 đồng, Đ là 850.000 đồng; tổng số tiền đánh bạc ban đầu là 5.355.000 đồng. Trong lúc đánh bạc, Q có mượn của Y số tiền 1.500.000 đồng để đánh bạc. Đến khoảng 22 giờ 00 phút cùng ngày thì có Lê Văn T và Bùi Thanh L, cùng trú tại thôn 2, xã Nghĩa An đến chơi và xem đánh bài, Q nói Y lấy thêm 02 bộ bài tú lơ khơ khác để thay.
Đến 22 giờ 40 phút cùng ngày, thì Cơ quan Cảnh sát điều tra (CSĐT) Công an huyện Kbang phát hiện, bắt quả tang các đối tượng đang đánh bạc, thu giữ trên cH bạc tổng số tiền là 6.855.000 đồng, gồm: Q 1.780.000 đồng, Đ 230.000 đồng, H 2.820.000 đồng, P 1.900.000 đồng và 95.000 đồng tiền xâu. Ngoài ra, còn thu giữ phương tiện sử dụng vào việc đánh bạc gồm 01 nệm xốp (cH bạc), 04 bộ bài tú lơ khơ 52 quân, 02 ví da của H và Q; đồng thời tạm giữ hình sự Q, Đ, H và P.
Tại Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số: 06/QĐ-VKS ngày 13/3/2023, VKSND huyện Kbang đã truy tố Nguyễn Thanh Q, Trần Thanh Đ, Nguyễn Văn P, Phạm Ngọc H và Nguyễn Y về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (gọi tắt là BLHS).
Tại phiên toà, đại diện VKSND huyện Kbang, tỉnh Gia Lai vẫn giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như Quyết định truy tố đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thanh Q, Trần Thanh Đ, Nguyễn Văn P, Phạm Ngọc H và Nguyễn Y phạm tội: “Đánh bạc”. Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 321, các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 và Điều 58 của BLHS để xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh Q từ 07 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 14 đến 18 tháng
; xử phạt các bị cáo Trần Thanh Đ, Nguyễn Văn P, Phạm Ngọc H mỗi bị cáo từ 06 đến 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 16 tháng. Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 321, các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các Điều 58 và 36 của BLHS để xử phạt bị cáo Nguyễn Y từ 06 đến 09 tháng cải tạo không giam giữ.
Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với năm bị cáo và miễn khấu trừ một phần thu nhập đối với bị cáo Hòa.
Về xử lý vật chứng:
Đề nghị tuyên tịch thu tiêu hủy đối với các vật chứng không còn giá trị sử dụng, gồm: 01 tấm nệm xốp có hoạ tiết trang trí trên nền màu xanh, 02 bộ bài tú lơ khơ có hoạ tiết màu đỏ trắng ở mặt sấp (mỗi bộ có 52 quân bài, 02 bộ bài tú lơ khơ có hoạ tiết trang trí hình cúc áo và xúc xắc nhiều màu sắc (mỗi bộ có 52 quân bài), 01 cái ví da màu đen và 01 cái ví màu nâu.
Đề nghị tuyên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 6.855.000 đồng.
Về án phí: Đề nghị buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm (HSST) theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Quyết định truy tố đã nêu, không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát, tỏ thái độ ăn năn hối cải và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA THẨM PHÁN – CTPT:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa; Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa nhận thấy như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan CSĐT Công an huyện Kbang, Điều tra viên, VKSND huyện Kbang, KSV trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS). Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có người nào ý kiến hoặc kH nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Thanh Q, Trần Thanh Đ, Phạm Ngọc H, Nguyễn Văn P và Nguyễn Y đã khai nhận phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan CSĐT Công an huyện Kbang và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, qua đó có đủ cơ sở để xác định rằng:
Vào tối ngày 31/01/2023, Q rủ Đ, P, H và Y về nhà ông Nguyễn Xin là cha ruột của Y để đánh bạc ăn tiền bằng hình thức đánh bài “binh xập xám”. Q, Đ, P và H là những người trực tiếp chơi, Hòa là người cung cấp bài và thu tiền xâu để trả tiền bài, điện và nước uống. Đến 22 giờ 40 phút cùng ngày, trong lúc các bị cáo đang đánh bạc thì bị Công an huyện Kbang phát hiện bắt quả tang cùng tiền và tang vật tại hiện trường. Quá trình điều tra đã xác định tổng số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc là 6.855.000 đồng, trong đó của Q là 1.780.000 đồng, Đ là 230.000 đồng, H là 2.820.000 đồng, P là 1.900.000 đồng và 95.000 đồng tiền xâu.
Như vậy, hành vi nêu trên của các bị cáo đã phạm vào tội: “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của BLHS như truy tố của VKSND huyện Kbang là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3]. Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm đến trật tự công cộng, nếp sống văn minh của xã hội, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân và là một tệ nạn xã hội dễ dẫn đến H quả nghiêm trọng của các tệ nạn khác nếu không được ngăn chặn kịp thời. Khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức và làm chủ được hành vi của mình, các bị cáo biết được việc đánh bạc bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý.
Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án thì thấy rằng: Các bị cáo phạm tội mang tính đồng phạm giản đơn, trong đó, bị cáo Q là người khởi xướng, rủ các bị cáo khác cùng đánh bạc; các bị cáo Đ, P và H đồng phạm với vai trò thực hành; bị cáo Y sử dụng nhà cha ruột mình làm địa điểm đánh bạc nên là đồng phạm với trò là người giúp sức.
Các bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tiền án, tiền sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của BLHS; gia đình các bị cáo có Yn cảnh khó khăn, bị cáo Hòa hiện đang phải điều trị do bị vỡ xương tay là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của BLHS.
Qua xem xét nhân thân của các bị cáo, đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, cũng như xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của từng bị cáo, Thẩm phán-CTPT thấy rằng: Các bị cáo đều có nơi cư trú rõ ràng, quá trình sinh sống tại địa phương luôn chấp hành đầy đủ chính sách, pháp luật của Nhà nước và nghĩa vụ công dân nơi cư trú; các bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong đó có 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS; bị cáo Hòa đã lớn tuổi, giữ vai trò thứ yếu trong vụ án và hiện đang phải điều trị do bị vỡ xương tay. Vì vậy, để thể hiện tính khoan hồng của pháp luật, tạo điều kiện cho các bị cáo được cải tạo tại cộng đồng để trở thành người lương thiện, Thẩm phán-CTPT thấy không cần thiết phải cách ly các bị cáo nói trên ra ngoài xã hội mà cần chấp nhận đề nghị của VKSND huyện Kbang, áp dụng Điều 65 của BLHS cho các bị cáo Q, Đ, H và P được hưởng án treo, có thời gian thử thách; áp dụng Điều 36 của BLHS cho bị cáo Hòa được hưởng hình phạt cải tạo không giam giữ là đã đảm bảo tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung; trong đó, để phân hóa trách nhiệm hình sự thì mức hình phạt áp dụng đối với Q phải cao hơn các bị cáo Đ, H và P là thỏa đáng.
Xét các bị cáo không có việc làm và thu nhập ổn định, Yn cảnh gia đình gặp nhiều khó khăn nên Thẩm phán-CTPT không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo và miễn khấu trừ một phần thu nhập đối với bị cáo Hòa.
[4]. Về xử lý vật chứng:
Đối với các vật chứng được các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nhưng không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy, gồm: 1 tấm nệm xốp có hoạ tiết trang trí trên nền màu xanh, 02 bộ bài tú lơ khơ có hoạ tiết màu đỏ trắng ở mặt sấp (mỗi bộ có 52 quân bài), 02 bộ bài tú lơ khơ có hoạ tiết trang trí hình cúc áo và xúc xắc nhiều màu sắc (mỗi bộ có 52 quân bài), 01 cái ví da màu đen và 01 cái ví màu nâu.
Đối với số tiền được các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc là 6.855.000 đồng, cần tuyên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
[5]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thanh Q, Trần Thanh Đ, Nguyễn Văn P, Phạm Ngọc H và Nguyễn Y phạm tội: “Đánh bạc".
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 58 và Điều 65 của BLHS;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh Q 07 (bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 14 (mười bốn) tháng tính từ ngày tuyên án (ngày 27/3/2023).
Xử phạt bị cáo Trần Thanh Đ 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án (ngày 27/3/2023).
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án (ngày 27/3/2023).
Xử phạt bị cáo Phạm Ngọc H 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án (ngày 27/3/2023).
Giao các bị cáo Nguyễn Thanh Q, Trần Thanh Đ, Nguyễn Văn P và Phạm Ngọc H cho Uỷ ban nhân dân (UBND) xã Nghĩa An, huyện Kbang, tỉnh Gia Lai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND cấp xã trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 58 và 36 của BLHS;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Y 06 (sáu) tháng tháng cải tạo không giam giữ, thời hạn cải tạo không giam giữ của bị cáo được tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị cáo nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Giao bị cáo Hòa cho UBND xã Nghĩa An, huyện Kbang, tỉnh Gia Lai giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Bị cáo Hòa phải thực hiện những nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với năm bị cáo và miễn khấu trừ một phần thu nhập cho bị cáo Hòa.
- Áp dụng khoản 1 Điều 47 của BLHS và khoản 2 Điều 106 của BLTTHS;
Tuyên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 6.855.000 đồng (sáu triệu tám trăm năm mươi lăm nghìn đồng);
Tuyên tịch thu tiêu hủy đối với: 01 tấm nệm xốp màu xanh, 02 bộ bài tú lơ khơ có hoạ tiết màu đỏ trắng (mỗi bộ có 52 quân bài), 02 bộ bài tú lơ khơ có hoạ tiết trang trí hình cúc áo (mỗi bộ có 52 quân bài), 01 cái ví da màu đen và 01 cái ví màu nâu.
(đặc điểm cụ thể của các vật chứng trên theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/3/2023 giữa Công an huyện Kbang và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kbang,)
- Áp dụng khoản 2 Điều 136 của BLTTHS và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;
Buộc các bị cáo Nguyễn Thanh Q, Trần Thanh Đ, Nguyễn Văn P, Phạm Ngọc H và Nguyễn Y mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo đề nghị TAND tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm./.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh Gia Lai. -VKSND huyện Kbang. -Công an huyện Kbang. -Các bị cáo. -Chi cục THADS huyện. (Khi án có HLPL). -Lưu HSVA,VPTA. | THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Văn Nguyên |