vanban.org

Bản án 10/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang Tuyên án 29/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

bị cáo Trần Văn V phạm tội “Đánh bạc”.

1/ Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Văn V 09 (Chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 29/6/2023). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn V - Tội "Đánh bạc" - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? bị cáo Trần Văn V phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2023/HSST
Ngày: 29 - 6 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lưu Duy Mạnh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Tâm.

2. Ông Nguyễn Văn Vân.

- Thư ký phiên tòa: Bà Cà Thị Lan - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò

Công Đông, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông,n tỉnh Tiền

Giang tham gia phiên tòa: Ông Phan Minh Tân - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Công

Đông, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai, vụ án hình sự thụ lý số 26/2023/TLST-HS ngày 26 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2021/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Văn V (Tên gọi khác: Nhướng), sinh ngày xx/x/xxxx tại

tỉnh Tiền Giang; căn ước công dân số: 08206800xxx do Cục cảnh sát quản lý về trật tự và xã hội cấp ngày 02/7/2021; nơi cư trú: ấp L, xã T, huyện G, tỉnh Tiền Giang; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hoá: 03/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Cảnh T, sinh năm xxxx(Đã chết) và bà Đoàn Thị T, sinh năm xxxx (Đã chết); vợ tên Trần Thị Thu Th, sinh năm xxxx và có 02 người con, lớn nhất sinh năm 1996, nhỏ nhất sinh năm 2002; tiền án: không; tiền sự: 01. Ngày 28/01/2022, bị cáo bị Công an xã Tân Phước xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc” theo quyết định số 06/QG-XPHC (Bị cáo đã chấp hành xong ngày 17/3/2022)

Bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú theo quyết định số

10/2023/QD-TA của Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Hạ Ngọc T, sinh năm xxxx (Xin vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp K, xã T, huyện G, tỉnh Tiền Giang.

2. Phan Thị R, sinh năm xxxx (Xin vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp K, xã T, huyện G, tỉnh Tiền Giang.

3. Trần Thị Thu T, sinh năm xxxx (Có mặt).

Địa chỉ: Ấp L, xã T, huyện G, tỉnh Tiền Giang.

4. Trần Văn U (Tên gọi khác Bảy Chí), sinh năm xxxx (Vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp G, xã T, huyện G, tỉnh Tiền Giang.

5. Trần My Đ, sinh năm xxxx (Vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp F, xã T, huyện G, tỉnh Tiền Giang.

6. Đoàn Thanh P (tên gọi khác: Út), sinh năm xxxx (Vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện G, tỉnh Tiền Giang.

- Người làm chứng: Trần Chí L, sinh năm 1992 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp R, xã T, huyện G, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng hơn 15 giờ ngày 12/8/2022, tại quán nước bà Phan Thị R có sẵn 01 (một) bộ bài tây đã cũ để sẵn tại quán nên các đối tượng gồm Đoàn Thanh Phong, Trần Văn U, Trần My Đ và bị cáo Trần Văn V thống nhất rủ nhau đánh bạc dưới hình thức đánh bài tiến lên 13 lá ăn thua bằng tiền; cụ thể các đối tượng tự thỏa thuận nhau số tiền thắng, thua và quy định cách thức chung, chi như sau: Nếu thắng nhất thì nhận được 20.000 đồng, thắng nhì thì nhận được 10.000 đồng từ 02 người thua nhất và thua nhì; người chặt 2 (heo) đỏ thì nhận được 20.000 đồng, người chặt 2 (heo) đen thì nhận được 10.000 đồng từ người bị chặt 2 (heo); “Úng” (là người về sau cùng nhưng vẫn còn lá 2 trên tay) con 2 (heo) đỏ, tứ quý hoặc 3 đôi thông thì thua 20.000 đồng; “Úng” con 2 (heo) đen thì thua 10.000 đồng; “Úng” tứ đôi thông thì thua 30.000 đồng. Các đối tượng chơi được khoảng 10 ván thì khoảng khoảng 16 giờ ngày 12/8/2022, thị bị Công an huyện Gò Công Đông phối hợp với Công an xã Tân Phước, huyện Gò Công Đông bắt quả tang.

Trong quá trình điều tra, các đối tượng đã dùng số tiền và tham gia đánh bạc thắng thua cụ thể như sau:

Bị cáo Trần Văn V là thừa nhận trước đó bị cáo V bỏ ra số tiền 320.000 đồng để tham gia đánh bạc, tại thời điểm bắt quả tang đánh bạc bị cáo V thua hết 20.000 đồng, nên thu giữ trong người bị cáo 300.000 đồng; Trần Văn Út thừa nhận trước đó U bỏ ra số tiền 380.000 đồng để tham gia đánh bạc, tại thời điểm bắt quả tang đánh bạc U thắng được 20.000 đồng nên thu giữ trong người là 400.000 đồng; Đoàn Thanh Phong thừa nhận trước đó P bỏ ra số tiền là 200.000 đồng để tham gia đánh bạc, tại thời điểm bắt quả tang đánh bạc P thắng được 100.000 đồng nên thu giữ trong người là 200.000 đồng; Riêng Trần My Đ không có thu giữ tiền trên người và trên chiếu bạc, do trước đó Đ bỏ ra số tiền 100.000 đồng để tham gia đánh bạc nhưng đến tại thời điểm bắt quả tang đánh bạc Đ đã thua hết.

Vật chứng thu giữ tại địa điểm đánh bạc gồm:

- 01 (một) bộ bài tây 52 lá;

- 01 (một) bộ dụng cụ lắc bầu cua;

- 05 (năm) điện thoại di động gồm:

+ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy A01 màu xanh đậm.

+ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Viettel - Model V6314.

+ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu hồng.

+ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu XIAOMI màu đen.

+ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen.

- Tiền Việt Nam tạm giữ trên người các đối tượng là 13.700.000đ (Mười ba triệu ba bảy trăm nghìn đồng), trong đó: Tổng số tiền dùng để tham gia đánh bạc của các con bạc là 1.000.000 đồng (Một triệu đồng).

Trong quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra đã xử lý như sau:

- Trao trả cho chủ sở hữu Đoàn Thanh P, sinh năm xxxx, ngụ ấp J, xã T, huyện G, tỉnh Tiền Giang:

+ Tiền Việt Nam 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng).

+ 01 (một) điện thoại di động hiệu Viettel – Model V6314.

- Trao trả cho chủ sở hữu Huỳnh Chí L, sinh năm xxxx, ngụ ấp A, xã T, huyện G, tỉnh Tiền Giang: 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen.

- Trao trả cho chủ sở hữu Trần Văn U, sinh năm xxxx, ngụ ấp K, xã T, huyện G, tỉnh Tiền Giang:

+ 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO màu hồng;

+ Tiền Việt Nam: 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng).

- Trao trả cho chủ sở hữu Trần My Đ, sinh năm xxxx , ngụ ấp H, xã T, huyện G, tỉnh Tiền Giang: 01 (Một) điện thoại di động hiệu XIAOMI màu đen;

- Vật chứng chuyển theo hồ sơ vụ án gồm:

+ 01 (Một) bộ bài tây 52 lá.

+ 01 (Một) bộ dụng cụ lắc bầu cua (gồm 01 dĩa, 01 hộp mũ, 01 tấm giấy bầu cua, 01 hột bầu cua).

+ 01 (Một) điện thoại di động SAMSUNG Galaxy A01 màu xanh đậm.

+ Tiền Việt Nam 2.700.000 đồng (Hai triệu bảy trăm nghìn đồng).

Tại bản Cáo trạng số 28/CT-VKSGCĐ ngày 25 tháng 5 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang đã truy tố các bị cáo Trần Văn V về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Riêng đối với các đối tượng: Đoàn Thanh P, Trần Văn U, Trần My Đ chưa có tiền án, tiền sự liên quan đến tội "Đánh bạc và Tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc", đồng thời tổng số tiền của các đối tượng này tham gia đánh bạc tại thời điểm bắt quả tang đánh bạc là 1.000.000 đồng (một triệu đồng) nên hành vi của Đoàn Thanh P, Trần Văn U, Trần My Đ không đủ yếu tố cấu thành tội phạm "Đánh bạc và Tổ chức đánh bạc" theo Điều 321 và 322 Bộ luật hình sự nên ngày 12/5/2023, Công an huyện Gò Công Đông đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng) đối với các đối tượng về hành vi tham gia đánh bạc trái phép ăn thua bằng tiền xảy ra vào ngày 12/8/2022 tại ấp 5, xã Tân Phước, huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về tội danh, đề nghị tuyên bố bị cáo Trần Văn V phạm tội “Đánh bạc”.

- Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 và Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt Trần Văn V 09 (Chín) tháng tù đến 12 (Mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng đến 24 (Hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 29/6/2023).

- Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và Khoản 2, 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước: Số tiền Việt Nam 1000.000 đồng (Một triệu đồng).

Tịch thu, tiêu hủy: 01 (Một) bộ bài Tây loại 52 là và 01 (Một) bộ lắc bầu cua (gồm 01 dĩa, 01 hộp mũ, 01 tấm giấy bầu cua, 01 hột bầu cua).

Trả lại các vật chứng không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, cụ thể:

+ Trả lại cho bị cáo Trần Văn V 01 (một) điện thoại di động SAMSUNG Galaxy A01 màu xanh đậm.

+ Trả lại cho chị Trần Thị Thu T số tiền 1.700.000 đồng (Một triệu, bảy tram nghìn đồng).

- Về án phí: Buộc bị cáo V chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, không có ý kiến tranh luận.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nên không có ý

kiến.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đều có ý kiến, biết đã vi phạm pháp luật, ăn năn hối cải, hứa sẽ không vi phạm và xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Gò Công Đông, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét về hành vi thực hiện tội phạm: Tại phiên tòa, bị cáo V khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Tại phiên tòa đã làm rõ:

Do bản chất đam mê cờ bạc nên khoảng hơn 15 giờ ngày 12/8/2022, tại quán nước bà Phan Thị R có sẵn 01 (một) bộ bài tây đã cũ để sẵn tại quán nên các đối tượng gồm Đoàn Thanh Phong, Trần Văn U, Trần My Đ và bị cáo Trần Văn V thống nhất rủ nhau đánh bạc dưới hình thức đánh bài tiến lên 13 lá ăn thua bằng tiền. Các đối tượng chơi được khoảng 10 ván thì khoảng khoảng 16 giờ ngày 12/8/2022, bị Công an huyện Gò Công Đông phối hợp với Công an xã Tân Phước, huyện Gò Công Đông bắt quả tang. Trước đó, ngày 28/01/2022, bị cáo V bị Công an xã Tân Phước, huyện Gò Công Đông ra quyết định xử phạt hành chính số tiền 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng) về hành vi đánh bạc trái phép, bị cáo đã chánh hành xong vào nagy2 17/3/2022. Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông truy tố các bị cáo Trần Văn V về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Đối với các đối tượng Đoàn Thanh Phong, Trần Văn U, Trần My Đ, do không đủ yếu tố cấu thành tội phạm "Đánh bạc và Tổ chức đánh bạc" theo Điều 321 và 322 Bộ luật hình sự nên ngày 12/5/2023, Công an huyện Gò Công Đông đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng) đối với Đoàn Thanh Phong, Trần My Đô, Trần Văn U về hành vi đánh bạc trái phép ăn thua bằng tiền nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Xét tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo xâm phạm đến trật tự công cộng, gây bất bình trong quần chúng nhân dân, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương.

Xét về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

+ Tình tiết tăng nặng: Bị cáo Trần Văn V có một tiền sự về hành vi tham gia đánh bạc trái phép, bị Công an xã Tân Phước, huyện Gò Công Đông ra quyết định xử phạt hành chính số tiền 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng) theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 06/QG-XPHC ngày 28/01/2022, bị cáo đã thi hành Quyết định xong Quyết định xử phạt vi phạm hành chính vào ngày 17/3/2022. Tuy nhiên, tình tiết này là tình tiết định khung hình phạt nên Hội đồng xét xử không tính vào tình tiết tăng nặng. Do đó, bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

+ Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại tòa hôm nay, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra biết ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do đó, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét khi quyết định hình phạt cho các bị cáo.

Ngoài ra, theo xác nhận của Công an xã Tân Phước ngày 29/5/2023, bị cáo V có nơi cư trú rõ ràng, chấp hành tốt quy định pháp luật và hiện nay có hoàn cảnh khó khăn nên Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi quyết định hình phạt.

Bị cáo V có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng nên có khả năng tự cải tạo và việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Vì vậy, bị cáo V có đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc “Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của bộ luật hình sự về án treo” và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/04/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc “Sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng điều 65 của bộ luật hình sự về án treo”. Do đó, không cần phải bắt bị cáo V chấp hành hình phạt tù mà chỉ cần áp dụng khoản 1, 2, 5 Điều 65 của BLHS cho bị cáo được hưởng án treo, giao cho chính quyền địa phương và gia đình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách cũng đảm bảo việc giáo dục các bị cáo nói riêng và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung và khấu trừ thu nhập: Bị cáo V không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền và khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo.

Về biện pháp tư pháp:

- Đối với số tiền Việt Nam thu trên người của bị cáo Trần Văn V 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), Đoàn Thanh P 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), Trần Văn Út 400.000đ (Bốn trăm nghìn đồng), tổng cộng là 1.000.000 đồng (Một triệu đồng). Do bị cáo Trần Văn V, anh Đoàn Thanh P, anh Trần Văn U, anh Trần My Đ thừa nhận số tiền này là dùng để đánh bạc nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước theo quy định tại Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Đối với 01 (Một) bộ bài Tây loại 52 lá, đây là công cụ để các đối thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Đối với 01 (Một) bộ lắc bầu cua, tuy đây không phải công cụ để các đối thực hiện hành vi phạm tội nhưng các chủ sở hữu của bộ lắc bầu cua là bà Phan Thị R, bà Hạ Ngọc T có yêu cầu tịch thu tiêu hủy nên Hội đồng xét xử xem xét tịch thu tiêu hủy đối với 01 bộ lắc bầu cua theo quy định tại Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Đối với 01 (Một) điện thoại di động SAMSUNG Galaxy A01 màu xanh đậm, đây là tài sản của bị cáo Trần Văn V. Tuy nhiên theo lời khai của bị cáo, việc bị cáo mang theo điện thoại là để liên lạc, không dùng vào mục đích phạm tôi nên Hội đồng xét xử xem xét trả lại cho bị cáo theo quy định tại Khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Đối với số tiền 1.700.000 đồng (Một triệu bảy trăm nghìn đồng), số tiền này là vợ của bị cáo V là chị Trần Thị Thu T đưa cho bị cáo để đóng hụi; qua quá trình tố tụng và tại phiên tòa, chị T cũng trình bày khi đưa 1.700.000 đồng (Một triệu bảy trăm nghìn đồng) cho bị cáo V là để đóng hụi, không dùng trong mục đích đánh bạc nên Hội đồng xét xử trả lại cho chị T theo quy định tại Khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ cần được chấp như đã nhận định trên.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tuyên bố

bị cáo Trần Văn V phạm tội “Đánh bạc”.

1/ Về hình phạt:

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

- Áp dụng Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc “Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của bộ luật hình sự về án treo” và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/04/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc “Sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng điều 65 của bộ luật hình sự về án treo”.

Xử phạt bị cáo Trần Văn V 09 (Chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 29/6/2023).

Giao bị cáo Trần Văn V cho Uỷ ban nhân dân xã Tân Phước, huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang để giám sát và giáo dục. Gia đình bị cáo V có trách nhiệm phối hợp với Uỷ ban nhân dân xã Tân Phước trong việc giám sát, giáo dục đối với bị cáo.

Trường hợp người chấp hành án thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại điều 92 Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2/ Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và Khoản 2, 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước: Số tiền Việt Nam 1000.000 đồng.

- Tịch thu, tiêu hủy: 01 (Một) bộ bài Tây loại 52 là và 01 (Một) bộ lắc bầu cua (gồm 01 dĩa, 01 hộp mũ, 01 tấm giấy bầu cua, 01 hột bầu cua).

- Trả lại các vật chứng không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, cụ thể:

+ Trả lại cho bị cáo Trần Văn V 01 (một) điện thoại di động SAMSUNG Galaxy A01 màu xanh đậm.

+ Trả lại cho chị Trần Thị Thu T số tiền 1.700.000 đồng.

Các vật chứng nêu trên được thể hiện theo quyết định chuyển giao vật chứng số 23/QĐ-VKSGCĐ ngày 25/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông và biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 26/5/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Gò Công Đông và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Công Đông.

3/ Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị Trần Văn V có nghĩa vụ nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

4/Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thới hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp Bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành bản án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ