vanban.org

Bản án 10/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình Tuyên án 16/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: bị cáo Trương Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Trương Văn Đ 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 16/12/2022. Xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trương Văn Đ phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Trương Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ TAM ĐIỆP
TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2023/HS-ST
Ngày: 16-3-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM ĐIỆP, TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: bà Phạm Thị Bích Hồng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Đình Công;

2. Ông Lê Thanh Sơn.

- Thư ký phiên tòa: bà Vũ Quỳnh Mai - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Dương Thành - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 3 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 08/2023/TLST-HS ngày 21 tháng 02 năm 2023 và theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2023/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 3 năm 2023, đối với bị cáo:

Trương Văn Đ (tên gọi khác: không), sinh ngày 30/4/2001, tại huyện Th, tỉnh Thanh Hoá; nơi cư trú: thôn T, xã Qu, thành phố T, tỉnh Ninh Bình (nơi ĐKTT: thôn V, xã Th, huyện Th, tỉnh Thanh Hóa); nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hóa: 8/12; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Mường; tôn giáo: không; con ông Trương Văn Đ1 và bà Trương Thị Qu; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giữ từ ngày 16/12/2022 đến ngày 23/12/2022 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình. (có mặt).

- Người làm chứng: anh Phạm Hồng Th. (vắng mặt)

- Người chứng kiến: chị Bùi Thị Hoài Th1. (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ, ngày 16/12/2022, Công an xã Quang Sơn, thành phố Tam Điệp tiến hành tuần tra bảo đảm an ninh trật tự, khi đến cổng Công ty TNHH Vonorna thuộc thôn Tân Hạ, xã Quang Sơn, thành phố Tam Điệp phát hiện một nam thanh niên. Tổ công tác yêu cầu kiểm tra hành chính đối với người này nhưng không xuất trình được căn cước công dân mà khai tên là Trương Văn Đ. Đ khai nhận bản thân là người sử dụng ma túy, đồng thời lấy từ trong túi áo bên trái phía trước 01 bao thuốc lá Thăng Long màu vàng đã bị bóc một đầu, ở kẽ giữa vỏ túi nilon bọc ngoài bao thuốc và vỏ bao thuốc lá có 01 túi nilon bên trong có chất tinh thể màu trắng, Đ khai nhận túi nilon đó là ma túy đá Đ vừa mua được của một người không quen biết để sử dụng cho bản thân. Tại chỗ, tổ công tác tiến hành kiểm tra bao thuốc lá Thăng Long, bên trong không có đồ vật gì, ở kẽ giữ vỏ túi nilon bọc bên ngoài bao thuốc và vỏ bao thuốc có 01 túi nilon màu trắng có viền xanh ở một đầu, bên trong là chất tinh thể màu trắng. Tổ công tác tiến hành thu giữ và niêm phong túi nilon chứa chất tinh thể màu trắng rồi đưa Đ về trụ sở Công an xã Quang Sơn làm việc. Ngoài ra, còn thu giữ của Đ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu trắng đã qua sử dụng, bên trong có lắp 01 sim Viettel. Sau đó, Công an xã Quang Sơn đã chuyển vụ việc đến Công an thành phố Tam Điệp để giải quyết theo thẩm quyền.

Tại trụ sở Công an thành phố Tam Điệp tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng chất tinh thể màu trắng thu giữ của Trương Văn Đ và kí hiệu M gửi giám định.

Tại bản kết luận giám định số 25/KL-KTHS-MT ngày 22/12/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình kết luận: “Mẫu chất dạng tinh thể màu trắng gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,1940 gam, là ma túy, loại Methamphetamine. Methamphetamine là chất ma túy thuộc Danh mục IIC, số thứ tự 247, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ”.

Tại bản cáo trạng số 10/CT-VKSTĐ ngày 20 tháng 02 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình đã truy tố bị cáo Trương Văn Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Trương Văn Đ và đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Tuyên bố bị cáo Trương Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Trương Văn Đ từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ 16/12/2022.

+ Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp: áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy toàn bộ các vật chứng, bao gồm: 01 phong bì giấy dán kín mép niêm phong, bên ngoài ghi số: 25/KL-KTHS-MT, vụ Trương Văn Đ, sinh năm 2001, xảy ra ngày 16/12/2022 tại xã Quang Sơn, thành phố Tam Điệp, mẫu vật hoàn trả gồm M= 0,1425 gam là ma túy loại Methamphetamine; toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong; 01 phong bì giấy dán kín mép niêm phong, bên ngoài ghi: vật chứng lưu kho: 01 vỏ túi nilon màu trắng có viền xanh ở một đầu, kích thước (2x1,5)cm; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng.

Người làm chứng anh Phạm Hồng Th trình bày: khoảng 16 giờ ngày 16/12/2022, anh thấy Đ đang đứng một mình thì công an đến yêu cầu kiểm tra, Đ không xuất trình được giấy tờ gì và khai nhận tên tuổi và tự lấy từ trong túi áo trước bên trái 01 bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, ở kẽ giữa túi nilon bọc ngoài bao thuốc và vỏ bao thuốc lá có 01 túi nilon màu trắng, bên trong có chất tinh thể màu trắng giao nộp cho Công an. Đ khai nhận là túi nilon đó là ma túy đá. Diễn biến sự việc đúng như cáo trạng đã nêu.

Người chứng kiến chị Bùi Thị Hoài Th1 trình bày: khoảng 16 giờ ngày 16/12/2022, chị được Công an thành phố Tam Điệp mời ra chứng kiến việc Công an tiến hành kiểm tra đối với Trương Văn Đ. Diễn biến sự việc như cáo trạng đã nêu.

Tại phiên tòa, bị cáo Trương Văn Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình với diễn biến sự việc đúng như cáo trạng đã truy tố. Bị cáo khẳng định bản thân bị truy tố về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là đúng người, đúng tội, đồng ý với luận tội của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án. Nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai của người làm chứng, người chứng kiến. Hành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh bằng Biên bản bắt người phạm tội quả tang (BL11-BL14), Biên bản mở niêm phong cân xác định khối lượng lấy mẫu gửi giám định và niêm phong lại (BL34), Kết luận giám định số 25/KLGĐ-PC09-MT ngày 22/12/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình (BL38) và các tang vật, tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đầy đủ cơ sở kết luận: ngày 16/12/2022, tại thôn Tân Hạ, xã Quang Sơn, thành phố Tam Điệp, bị cáo Trương Văn Đ có hành vi tàng trữ 0,1940 gam ma tuý loại Methamphetamine để sử dụng thì bị Cơ quan Công an phát hiện.

Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi tàng trữ 0,1940 gam Methamphetamine trong người để sử dụng cho bản thân như đã nêu trên là trái phép và cố ý. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Trực tiếp là hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy làm ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an ở địa phương, là nguyên nhân làm phát sinh tội phạm và tệ nạn xã hội.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c) Heroin, côcain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA. XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.

Như vậy, hành vi của bị cáo Trương Văn Đ đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điều luật đã viện dẫn ở trên là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, không bị oan sai.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cần được áp dụng cho bị cáo.

Về nhân thân: bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa từng vi phạm pháp luật.

Về hình phạt: xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, khối lượng chất ma tuý bị cáo tàng trữ, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo cần phải có hình phạt thích đáng đối với bị cáo, buộc bị cáo phải chịu hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, có như vậy mới có tác dụng giáo dục và cải tạo bị cáo trở thành công dân sống có ích cho gia đình và cho xã hội, đồng thời đảm bảo tác dụng răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: bị cáo phạm tội để phục vụ cho nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân, không có mục đích kiếm lời nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp:

Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu trắng, đã qua sử dụng bên trong có lắp 01 sim Viettel số thuê bao 0973.256.961; quá trình điều tra xác định chiếc điện thoại là của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho bị cáo Độ, bà Lương Thị Quý (là mẹ đẻ của bị cáo) nhận lại theo ủy quyền của bị cáo là đúng quy định của pháp luật.

Đối với các vật chứng đã được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tam Điệp chi tiết vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/02/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Tam Điệp và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tam Điệp. Trong đó, số ma túy là vật cấm tàng trữ, các vật chứng còn lại không còn giá trị sử dụng nên căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu hủy.

Về nguồn gốc ma túy: bị cáo khai nhận ngày 16/12/2022, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên bị cáo mua của một người không quen biết ở khu vực cổng Công ty TNHH Vonorna thuộc thôn Tân Hạ, xã Quang Sơn, thành phố Tam Điệp nên không đủ căn cứ để điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Tam Điệp, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;

Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

1.Tuyên bố: bị cáo Trương Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Trương Văn Đ 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 16/12/2022.

2. Xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp.

Tịch thu tiêu hủy:

- 01 phong bì giấy dán kín mép niêm phong, bên ngoài ghi số: 25/KL-KTHS-MT, vụ Trương Văn Đ, sinh năm 2001, xảy ra ngày 16/12/2022 tại xã Quang Sơn, thành phố Tam Điệp, mẫu vật hoàn trả gồm M= 0,1425 gam là ma túy loại Methamphetamine; toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong;

- 01 phong bì giấy dán kín mép niêm phong, bên ngoài ghi: vật chứng lưu kho: 01 vỏ túi nilon màu trắng có viền xanh ở một đầu, kích thước (2x1,5)cm;

- 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng.

(Chi tiết vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 20/02/2023 giữa cơ quan CSĐT Công an thành phố Tam Điệp và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tam Điệp)

3. Về án phí: bị cáo Trương Văn Đ phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 16/3/2023.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ