- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Đình K, Bùi Hoàng K1 phạm tội Mua bán trái phép chất ma tuý - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung mộ…"
- Tòa quyết gì? Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 56 (đối với bị cáo Kha) Bộ luật Hình sự;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. PHAN RANG-THÁP CHÀM TỈNH NINH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 10/2023/HS-ST Ngày: 13-01-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG – THÁP CHÀM
TỈNH NINH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Vân
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Hoàng Liên và ông Lê Huỳnh Sinh
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Minh Hằng – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Diệu - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 01 năm 2023, tại phòng xử án Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 175/2022/TLST-HS ngày 10 tháng 11 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 201/2022/QĐXXST-HS ngày 29-12-2022 đối với:
1. Bị cáo Phan Đình K, sinh năm 2000 tại Ninh Thuận; Nơi cư trú: Khu phố 02, phường Phủ H, thành phố P, tỉnh Ninh Thuận; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hóa: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phan Đình H (chết) và bà Trần Ngọc Thị Yến S; Vợ bà Lê Thị Ánh D và 01 con; Tiền sự: không;
Tiền án: Ngày 22-7-2020, bị Toà án nhân dân thành phố Phan Rang – Tháp Chàm xử 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo Bản án số 67/2020/HS-ST.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23-6-2022, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận (có mặt).
2. Bị cáo Bùi Hoàng K1, sinh năm 1999 tại Ninh Thuận; Nơi cư trú: Khu phố 02, phường Mỹ Hải, thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hóa: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi Hoàng S và bà Nguyễn Thị M; Vợ bà Nguyễn Thị T và 02 con; Tiền án, tiền sự: không;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24-6-2022, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận (có mặt).
3. Người làm chứng: Ông Nguyễn S, sinh năm 1984 (vắng mặt).
Nơi cư trú: Khu phố 3, phường Văn H, thành phố P, tỉnh Ninh Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ 40 phút ngày 23-6-2022, tại khu vực trước nhà xe Minh Q, số 66 đường Lê D, khu phố 10, phường Phước M, thành phố P, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Ninh Thuận phối hợp với Công an phường Phước M đã bắt quả tang Phan Đình K có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tạm giữ trên tay K 01 gói hàng màu đen, bên trong chứa: 01 gói nylon dạng miệng khép dính viền màu đỏ, chứa chất tinh thể màu trắng (nghi là ma túy); 01 gói nylon dạng miệng khép dính viền màu đỏ, chứa 10 viên nén hình đa giác màu xanh nước biển (nghi là ma túy). Lực lượng Công an đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, tạm giữ, niêm phong đồ vật, phương tiện, tài sản có liên quan và mời K về làm việc.
Khám xét khẩn cấp chỗ ở của K tại số nhà 17/69/50 đường Thống Nhất, Khu phố 2, phường Đài S, thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, lực lượng Công an phát hiện, tạm giữ 31 gói nylon dạng miệng khép dính viền màu đỏ chưa qua sử dụng, 03 gói nylon dạng miệng khép dính viền màu đỏ chứa chất cặn màu trắng đã qua sử dụng (nghi là ma túy).
Tại bản Kết luận giám định chất ma túy số 142/KLGĐ-PC09 ngày 29/6/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Thuận, kết luận:
- Chất tinh thể màu trắng bên trong 01 gói nylon dạng miệng khép dính viền màu đỏ gửi đến giám định (ký hiệu M1.1) là ma túy, loại Ketamine. Khối lượng mẫu gửi giám định ký hiệu M1.1 là: 4,3504g (Bốn phẩy ba năm không bốn gam).
- 10 viên nén hình đa giác màu xanh nước biến bên trong 01 gói nylon dạng miệng khép dính viền màu đỏ gửi đến giám định (ký hiệu M1.2) là ma túy, loại MDMA. Khối lượng mẫu gửi giám định ký hiệu M1.2 là: 4,2752g (Bốn phẩy hai bảy năm hai gam).
- Chất cặn màu trắng bên trong 03 gói nylon (ký hiệu M2) gửi đến giám định quá ít, không xác định được khối lượng, không đủ định lượng để giám định theo quy trình.”
Quá trình điều tra Phan Đình K khai nhận số ma túy Ketamin (Khay) và MDMA (thuốc lắc) mà Cơ quan Công an thu giữ là của K mua từ một người có tài khoản Zalo tên “Còy” ở tỉnh Bỉnh Dương (không rõ nhân thân, lai lịch) với giá 7.500.000 đồng vào ngày 22-6-2022. K chuyển tiền cho “Còy” vào số tài khoản 5506205326540 tên Lê Thị Thúy mở tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank). Sau khi nhận tiền, “Còy” gửi ma túy thông qua hình thức gửi hàng hóa tại Nhà xe Minh Q lưu thông từ tỉnh Bình Dương về Ninh Thuận cho K. Trước đó, K đã mua ma túy của một thanh niên tên N khoảng 25 tuổi ở tỉnh Bình Dương (không rõ nhân thân, lai lịch) được 01 lần. Sau đó, N giới thiệu “Còy” cho K, K đã mua ma túy của “Còy” được 02 lần với cách thức giao dịch như trên.
Sau khi mua ma túy về, K phân nhỏ để sử dụng và bán kiếm lời. Trong khoảng thời gian từ ngày 09-5-2022 đến 22-6-2022, K bán ma túy cho Bùi Hoàng K1 được 06 lần, thu được số tiền 20.300.000 đồng (Hai mươi triệu ba trăm nghìn đồng). Sau khi mua ma túy từ K, K1 đem về sử dụng và bán kiếm lời, bản thân K1 đã bán cho Nguyễn S được 04 lần, thu lợi bất chính số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng). Cụ thể như sau:
Lần thứ nhất: Vào khoảng 20 giờ ngày 09-5-2022, S gọi điện cho K1 hỏi mua 04 viên thuốc lắc, 04 gói ma túy khay. K1 đồng ý bán và gọi vào số điện thoại 0832622038 của K hỏi mua số lượng ma túy trên thì được K báo giá: 01 viên thuốc lắc 400.000 đồng, 01 gói ma túy khay 900.000 đồng, tổng tiền 5.200.000 đồng. K1 đồng ý mua thì được K hẹn đến khu vực cây xăng đường Quang T thuộc phường Phủ H để giao dịch. Lúc này, K1 gọi điện cho S báo giá 01 viên thuốc lắc 400.000 đồng, 01 gói ma túy khay 1.000.000 đồng, tổng tiền 5.600.000 đồng thì S đồng ý. Sau đó, K1 đi đến cây xăng Quang T gặp K lấy ma túy. Tại đây, K đưa K1 một khẩu trang y tế bên trong chứa 04 viên thuốc lắc, 04 gói ma túy khay. K1 lấy hết số ma túy trên bỏ vào một vỏ gói thuốc lá và gọi S hẹn đến khu vực trước chùa Phước H, trên đường Hải Thượng Lãn Ô thuộc phường Mỹ H để nhận ma túy. Tại đây, K1 đưa cho S một vỏ gói thuốc lá, bên trong chứa ma túy, S trả cho K1 5.600.000 đồng. Sau khi nhận được tiền, K1 chuyển số tiền 5.200.000 đồng vào tài khoản Ngân hàng Vietcombank của K để trả tiền mua ma túy, K1 thu lợi 400.000 đồng.
Lần thứ hai: Vào khoảng 20 giờ ngày 27-5-2022, do muốn sử dụng ma túy, K1 gọi vào số điện thoại của K hỏi mua 01 viên thuốc lắc, 01 gói ma túy khay thì được K đồng ý bán với giá 1.250.000 đồng và hẹn đến khu vực cây xăng đường Quang Trung thuộc phường Phủ Hà để giao dịch. Tại đây, K bán cho K1 01 viên thuốc lắc, 01 gói ma túy khay, K1 trả cho K số tiền 1.250.000 đồng. Số ma túy trên, K1 đã sử dụng cá nhân hết.
Lần thứ ba: Vào khoảng 22 giờ ngày 10-6-2022, do muốn sử dụng ma túy, K1 gọi vào số điện thoại của K hỏi mua 01 viên thuốc lắc, 01 gói ma túy khay thì được K đồng ý bán với giá 1.250.000 đồng và hẹn đến khu vực cây xăng đường Quang T thuộc phường Phủ H để giao dịch. Tại đây, K bán cho K1 01 viên thuốc lắc, 01 gói ma túy khay, K1 trả cho K số tiền 1.250.000 đồng. Số ma túy trên, K1 đã sử dụng cá nhân hết.
Lần thứ tư: Vào khoảng 19 giờ ngày 17-6-2022, S gọi điện cho K1 hỏi mua 02 gói ma túy khay, K1 đồng ý bán và gọi vào số điện thoại của K hỏi mua số lượng ma túy trên thì được K báo giá 1.800.000 đồng. K hẹn K1 đến khu vực cây xăng đường Quang T thuộc phường Phủ H để giao dịch. Lúc này, K1 gọi điện cho S báo giá 2.000.000 đồng thì S đồng ý mua. Sau đó, K1 đi đến cây xăng Quang T để lấy ma túy. Khi đến nơi, theo chỉ dẫn của K, K1 nhặt một khẩu trang y tế ở vỉa hè, bên trong chứa 02 gói ma túy khay. K1 lấy số ma túy trên bỏ vào một vỏ gói thuốc lá và gọi S hẹn đến khu vực trước chùa Phước H, trên đường Hải Thượng Lãn Ô thuộc phường Mỹ H để nhận ma túy. Tại đây, K1 đưa cho S ma túy, S chuyển số tiền 2.000.000 đồng vào tài khoản Ngân hàng Vietcombank của K1. Sau đó, K1 chuyển vào tài khoản Ngân hàng Vietcombank của K 02 lần để trả tiền mua ma túy, vào ngày 18-6-2022 (chuyển 700.000 đồng) và ngày 22-6-2022 (chuyển 500.000 đồng). K1 nợ K số tiền 600.000 đồng. Lần này K1 thu lợi số tiền 200.000 đồng.
Lần thứ năm: Vào khoảng 23 giờ ngày 21-6-2022, S gọi cho K1 hỏi mua 03 viên thuốc lắc, 04 gói ma túy khay. K1 đồng ý bán và gọi vào số 0832622038 của K hỏi mua số lượng ma túy trên thì được K đồng ý bán với giá 01 viên thuốc lắc 350.000 đồng, 01 gói ma túy khay 900.000 đồng, K giảm cho K1 50.000 đồng nên tổng tiền là 4.600.000 đồng. K1 đồng ý mua thì được K hẹn đến khu vực cây xăng đường Quang T thuộc phường Phủ H để giao dịch. Lúc này, K1 gọi điện cho S báo giá 01 viên thuốc lắc 400.000 đồng, 01 gói ma túy khay 1.000.000 đồng, tổng số tiền là 5.200.000 đồng. S đồng ý mua và chuyển khoản vào tài khoản ngân hàng của K1 5.000.000 đồng, còn 200.000 đồng khi nào nhận ma túy S sẽ đưa tiếp. Sau đó, K1 đi đến cây xăng Quang T để gặp K lấy ma túy. Tại đây, K đưa K1 03 viên thuốc lắc, 04 gói ma túy khay, K1 xin nợ tiền, sẽ trả sau. K1 gọi cho S hẹn đến khu vực trước chùa Phước Huệ, trên đường Hải Thượng Lãn Ô thuộc phường Mỹ H để nhận ma túy. Tại đây, K1 đưa S một vỏ gói thuốc lá bên trong chứa 03 viên thuốc lắc, 04 gói ma túy khay, đồng thời S trả K1 200.000 đồng còn lại. Đến sáng ngày 22-6-2022, tại quán cà phê Nâu đường Hùng V, phường Mỹ H, K1 trả cho K 3.000.000 đồng và chiều cùng ngày tại khu vực phía sau Công viên 16 tháng 4, phường Thanh S, K1 trả K 2.200.000 đồng (trong đó có 600.000 đồng K1 còn nợ K khi mua ma túy ở lần thứ tư). Lần này, K1 thu lợi số tiền 600.000 đồng.
Lần thứ sáu: Vào khoảng 01 giờ ngày 22-6-2022, S gọi điện cho K1 hỏi mua 05 viên thuốc lắc, 05 gói ma túy khay. K1 đồng ý bán và gọi vào số số điện thoại của K hỏi mua số lượng ma túy trên thì được K đồng ý bán với giá 01 viên thuốc lắc 350.000 đồng, 01 gói ma túy khay 900.000 đồng, K bớt cho K1 50.000 đồng, nên tổng cộng là 6.200.000 đồng. K1 đồng ý mua thì được K hẹn đến khu vực cây xăng đường Quang T thuộc phường Phủ H để giao dịch. Lúc này, K1 gọi điện cho S báo giá 01 viên thuốc lắc 400.000 đồng, 01 gói ma túy khay 1.000.000 đồng, tổng tiền 7.000.000 đồng thì S đồng ý mua và chuyển vào tài khoản Ngân hàng cho K1 7.000.000 đồng. Do bận việc không đi đến điểm hẹn được nên K1 nói K sẽ có một người bạn đến lấy ma túy, K1 sẽ chuyển tiền sau cho Kha. K1 đưa cho K số điện thoại của S để liên lạc khi đến giao ma túy. Khi đến cây xăng Quang Trung, K bỏ số ma túy trên vào 01 gói thuốc lá rồi đặt trên vỉa hè. K gọi vào số điện thoại của S đến nhận ma túy. Sau khi nhận được ma túy, S gọi điện báo cho K1 và K1 chuyển khoản trả cho K số tiền 6.200.000 đồng. Lần này, K1 thu lợi số tiền 800.000 đồng.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến, hay khiếu nại gì về kết luận giám định và đều khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung vụ án đã nêu.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang – Tháp Chàm giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng số 170/CT-VKSPRTC ngày 07-11-2022 của Viện kiểm sát thành phố Phan Rang – Tháp Chàm: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phan Đình K và Bùi Hoàng K1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 54 (đối với bị cáo Kha); Điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 (đối với bị cáo K1) Bộ luật Hình sự; xử phạt: bị cáo K từ 06 – 07 năm tù, bị cáo K1 từ 05 – 06 năm tù. Và xử lý vật chứng của vụ án theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo không tranh luận; Lời nói sau cùng: “Các bị cáo nhận thức được hành vi của các bị cáo là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để các bị cáo sớm về với gia đình và xã hội.”
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt người làm chứng. Người làm chứng đã có lời khai trong quá trình điều tra vụ án và việc vắng mặt không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên căn cứ Điều 293 của Bộ luật tố tụng Hình sự xét xử vắng mặt người làm chứng.
Tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ được thu thập trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Từ ngày 09-5-2022 đến ngày 22-6-2022, trên địa bàn thành phố Phan Rang-Tháp Chàm, Phan Đình K đã 06 lần thực hiện hành vi bán trái phép chất ma túy loại Ketamin và MDMA cho Bùi Hoàng K1, thu lợi số tiền 20.300.000 đồng. Tổng trọng lượng chất ma túy đã thu giữ của Phan Đình K khi bắt quả tang là 4,3504g Ketamin và 4,2752g MDMA nhằm mục đích sử dụng và bán kiếm lời.
Sau khi mua ma túy từ K, Bùi Hoàng K1 đã bán trái phép cho Nguyễn S 04 lần, thu lợi số tiền 2.000.000 đồng.
Hành vi các bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số 170/CT-VKSPRTC ngày 07-11-2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang – Tháp Chàm truy tố các bị cáo là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.
Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội: MDMA và Ketamine là chất ma túy nằm trong danh mục các chất ma túy được dùng hạn chế trong phân tích, kiểm nghiệm nghiên cứu khoa học, điều tra tội phạm hoặc trong lĩnh vực y tế, thú ý theo quy định của cơ quan có thẩm quyền. Ma túy không chỉ huỷ hoại sức khoẻ con người mà còn là nguyên nhân phát sinh các tội phạm và các tệ nạn xã hội khác. Do đó, hành vi mua bán trái phép chất ma túy của các bị cáo là hết sức nguy hiểm không những xâm phạm chính sách quản lý độc quyền của nhà nước đối với chất ma túy mà còn ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự công cộng tại địa phương.
Trong vụ án này, bị cáo K trực tiếp bỏ tiền ra mua ma túy, phân chia nhỏ ra để bán, thu và sử dụng tiền lời nên bị cáo K phải chịu hình phạt cao hơn bị cáo K1.
Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi mua bán trái phép chất ma túy là trái pháp luật nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện tội phạm nên cần có hình phạt tương xứng đối với bị cáo, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo K1 có nhân thân tốt. Bị cáo K có nhân thân xấu và có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo K, K1 tự khai ra các lần phạm tội trước đó; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; K đã nộp lại một phần tiền bán ma tuý và K1 đã tác động gia đình nộp lại số tiền bán ma tuý nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.
Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo đang bị tạm giam, không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tổng hợp hình phạt đối với bị cáo Kha: Tại Bản án số 67/2020/HS-ST ngày 22-7-2020, bị cáo K bị xét xử 12 tháng tù nhưng cho án treo và ấn định thời gian thử thách là 24 tháng. Trong thời gian thử thách lại phạm tội mới nên bị cáo K phải chấp hành hình phạt của Bản án trước và tổng hợp với hình phạt tù của Bản án này theo quy định tại Điều 56 Bộ luật Hình sự.
Đối với người tên Nhân, người có tài khoản zalo “Còy” ở tỉnh Bình Dương đã bán ma túy cho K, quá trình điều tra Cơ quan điều tra chưa xác định được tên tuổi và địa chỉ cụ thể nên sẽ tiếp tục xác minh và đề nghị xử lý sau là phù hợp.
Đối với số tài khoản 5506205326540 mở tại Ngân hàng Nông nghiệp phát triển nông thôn Việt Nam đứng tên Lê Thị T (sinh năm 1978, trú tại tổ 4, khu phố Khánh H, phường Tân Phước K, thị xã Tân U, tỉnh Bình Dương) và số điện thoại 0397560938 do người tên Thò Mí P (sinh năm 1998, trú tại xã Niêm S, huyện Mèo V, tỉnh Hà Giang) đăng kí thuê bao, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Phan Rang – Tháp Chàm đã ra Quyết định ủy thác điều tra cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Tân U, tỉnh Bình Dương; Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh L, tỉnh Bạc Liêu và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mèo V, tỉnh Hà Giang để điều tra làm rõ một số nội dung liên quan đến vụ án nhưng đến nay chưa có kết quả. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Phan Rang – Tháp Chàm tiếp tục điều tra, xác minh, khi nào đủ căn cứ sẽ xử lý sau là phù hợp.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn S, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Phan Rang – Tháp Chàm đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với S là phù hợp.
Đối với nhà xe Minh Q do ông Nguyễn Thanh N làm quản lý, ông N không biết thùng hàng gửi cho Phan Đình K có ma túy bên trong nên Cơ quan điều tra Công an thành phố Phan Rang – Tháp Chàm không xem xét xử lý là phù hợp.
Đối với 01 (một) xe ô tô biển số 79A – 164.71, nhãn hiệu Toyota Vios, màu trắng xanh, trên thân xe dán logo taxi hãng Quốc tế. Quá trình điều tra xác định, xe trên do Công ty Cổ phần Thương mại và Du lịch Quốc t làm chủ sở hữu. Quá trình điều tra xác định, Công ty không biết Phan Đình K dùng xe trên để giao nhận ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại xe ô tô cùng với các giấy tờ có liên quan cho Công ty Cổ phần Thương mại và Du lịch Quốc t là phù hợp.
Đối với 01 (một) xe mô tô loại Vision biển số 85B1 – 802.99, màu đen xám do bà Bùi Thị Minh T làm chủ sở hữu. Quá trình điều tra xác định xe mô tô không liên quan đến vụ án nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho bà T là phù hợp.
Đối với các tài sản, đồ vật khác gồm: 01 điện thoại di động Iphone số Imei: 359251079190287; 01 loa màu đen hiệu Kimiso; 01 USB 2GB màu xanh lá cây, không liên quan đến vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho bà Lê Thị Ánh D (vợ của Kha) là phù hợp.
Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 (một) gói niêm phong: Bên trong chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định gồm 3,9383gam ma túy loại Ketamine và 3,8366gam ma túy loại MDMA cùng với bao gói gửi đến giám định; Bên ngoài có dán giấy niêm phong, có hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Thuận, chữ kí và họ tên Lê Ngọc Thư, Phạm Văn Tình, Trần Huy Hòa, Phan Viết Toại; 01 (một) thùng giấy: Bên trong chứa 01 túi nylon màu đen, trên túi nylon có dán 01 mảnh giấy ghi thông tin “người gửi”: Anh Hiếu 0397560938, người nhận: Anh Cường 0832622038, gửi đến nhà xe Minh Quân Phan Rang, gửi 01 bộ đồ”; 01 áo mưa bằng nylon màu trắng xanh loại dùng một lần. Bên ngoài có dán giấy niêm phong trên có hình dấu tròn màu đỏ của Công an phường Phước Mỹ, chữ kí và họ tên Hoàng Mạnh Quân, Phan Viết Toại, Phạm Văn Đức, Phan Đình K. Đây là thùng giấy cất giấu ma túy bên trong, được “Còy” gửi về cho Phan Đình K qua nhà xe Minh Q và 01 (một) phong bì: Bên trong chứa 31 gói nylon dạng miệng khép dính viền màu đỏ chưa qua sử dụng; Bên ngoài có dán giấy niêm phong, trên có hình dấu tròn màu đỏ của Công an phường Đài S, chữ kí và họ tên Trần Quang Trung, Trần Quốc Việt, Trần Hữu Trí Anh, Phan Đình K. Đây là chất ma túy, vật chứng liên quan đến hành vi mua bán trái phép chất ma túy của Phan Đình K nên phải tịch thu, tiêu hủy.
Đối với 01 (một) gói niêm phong bên trong chứa 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu hồng có gắn sim số 0832622038, số Imei: 355228086172689. Bên ngoài có dán giấy niêm phong trên có hình dấu tròn màu đỏ của Cơ quan CSĐT Công an TP.Phan Rang – Tháp Chàm, chữ kí và họ tên Nguyễn Văn Thiện, Lê Xuân Tuấn, Phan Đình K. Đây là điện thoại Phan Đình K sử dụng để liên lạc mua bán trái phép chất ma túy; 01 (một) gói niêm phong bên trong chứa 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu xám đen có gắn sim số 0889061694, số Imei: 013885008722414. Bên ngoài có dán giấy niêm phong trên có hình dấu tròn màu đỏ của Công an phường Phước Mỹ, chữ kí và họ tên Trần Quốc Việt, Phan Viết Toại, Nguyễn Hoài Linh, Bùi Hoàng K1. Đây là điện thoại Phan Đình K và Bùi Hoàng K1 sử dụng để liên lạc mua bán trái phép chất ma túy nên phải tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước.
Đối với số tiền 20.300.000 đồng do Phan Đình K bán trái phép chất ma túy mà có. Đây là số tiền do bán ma túy mà có nên phải tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước. Bị cáo K đã tự nguyện nộp số tiền 875.000đồng theo Uỷ nhiệm chi số 39 ngày 18-11-2022 tại Kho bạc Nhà nước tỉnh Ninh Thuận để nộp lại một phần tiền thu lợi bất chính.
Đối với số tiền 2.000.000 đồng do Bùi Hoàng K1 bán trái phép chất ma túy mà có. Đây là số tiền do bán ma túy mà có nên phải tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước.
Về án phí: Các bị cáo Phan Đình K, Bùi Hoàng K1 bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: điểm b khoản 2 Điều 251; Điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật Hình sự;
Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 56 (đối với bị cáo Kha) Bộ luật Hình sự;
Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Phan Đình K, Bùi Hoàng K1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Phan Đình K 06 (sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 23-6-2022.
Bị cáo Bùi Hoàng K1 05 (năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 24-6-2022.
Tổng hợp hình phạt: Buộc bị cáo Phan Đình K chấp hành hình phạt chung cho cả 02 Bản án là: 07 (bảy) năm tù.
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) gói niêm phong bên trong chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định gồm 3,9383gam ma túy loại Ketamine và 3,8366gam ma túy loại MDMA cùng với bao gói gửi đến giám định; Bên ngoài có dán giấy niêm phong, có hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Thuận, chữ kí và họ tên Lê Ngọc Thư, Phạm Văn Tình, Trần Huy Hòa, Phan Viết Toại; 01 (một) thùng giấy bên trong chứa 01 túi nylon màu đen, trên túi nylon có dán 01 mảnh giấy ghi thông tin “người gửi”: Anh Hiếu 0397560938, người nhận: Anh Cường 0832622038, gửi đến nhà xe Minh Quân Phan Rang, gửi 01 bộ đồ”; 01 áo mưa bằng nylon màu trắng xanh loại dùng một lần. Bên ngoài có dán giấy niêm phong trên có hình dấu tròn màu đỏ của Công an phường Phước Mỹ, chữ kí và họ tên Hoàng Mạnh Quân, Phan Viết Toại, Phạm Văn Đức, Phan Đình K và 01 (một) phong bì bên trong chứa 31 gói nylon dạng miệng khép dính viền màu đỏ chưa qua sử dụng; Bên ngoài có dán giấy niêm phong, trên có hình dấu tròn màu đỏ của Công an phường Đài S, chữ kí và họ tên Trần Quang Trung, Trần Quốc Việt, Trần Hữu Trí Anh, Phan Đình K.
Tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước: 01 (một) gói niêm phong bên trong chứa 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu hồng có gắn sim số 0832622038, số Imei: 355228086172689. Bên ngoài có dán giấy niêm phong trên có hình dấu tròn màu đỏ của Cơ quan CSĐT Công an TP.Phan Rang – Tháp Chàm, chữ kí và họ tên Nguyễn Văn Thiện, Lê Xuân Tuấn, Phan Đình K; 01 (một) gói niêm phong bên trong chứa 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu xám đen có gắn sim số 0889061694, số Imei: 013885008722414. Bên ngoài có dán giấy niêm phong trên có hình dấu tròn màu đỏ của Công an phường Phước Mỹ, chữ kí và họ tên Trần Quốc Việt, Phan Viết Toại, Nguyễn Hoài Linh, Bùi Hoàng K1. Và số tiền 2.000.000đồng của Bùi Hoàng K1.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 15-11-2022 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Phan Rang – Tháp Chàm và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Rang – Tháp Chàm và Biên lai thu tiền số 0001474 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Phan Rang – Tháp Chàm ngày 05-12-2022)
Buộc bị cáo Phan Đình K phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 20.300.000đồng (Hai mươi triệu, ba trăm ngàn đồng) để sung vào Ngân sách Nhà nước.
Về án phí: Mỗi bị cáo (bị cáo Phan Đình K, Bùi Hoàng K1) phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm công khai, các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Ninh Thuận; - VKSND tỉnh Ninh Thuận; - VKSND TP. PR-TC; - Công an TP. PR-TC; - Nhà tạm giữ CA TP. PR-TC; - Chi cục THADS TP. PR-TC; - Sở Tư pháp tỉnh Ninh Thuận; - UBND P. Phủ Hà, TP. PR-TC; - UBND P. Mỹ Hải, TP. PR-TC; - Bị cáo; - Lưu án văn, hồ sơ./. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thùy Vân |