- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nông Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC KẠN TỈNH BẮC KẠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 10/2023/HS-ST Ngày 08/12/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC KẠN, TỈNH BẮC KẠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Tạ Văn Tư
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nông Hữu Thái
2. Ông Bùi Văn Khiếu
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Xuân - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên toà: Ông Hoàng Đức Biên - Kiểm sát viên.
Trong ngày 08 tháng 12 năm 2023, Tại điểm cầu trung tâm Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn và điểm cầu thành phần tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 11/2023/HSST, ngày 16 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2023/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:
Nông Văn T, sinh ngày 15/5/1996; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở: tổ P, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 7/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nông Văn T1 và bà Lưu Thị T2; Có vợ là Lý Thị H và 01 con; Tiền án: 01 (Ngày 29/12/2021, bị Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn xử phạt 18 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự; Ngày 13/01/2023 chấp hành xong hình phạt tù); Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 26/9/2013, bị Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 06 (sáu) năm tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, ngày 11/10/2017, chấp hành xong án phạt tù (đã được xóa án tích).
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/8/2023 đến nay và có mặt tại điểm cầu thành phần.
*Người tham gia tố tụng khác có mặt tại điểm cầu thành phần:
1. Ông Hoàng Thế Bộ - Cán bộ đội CSTHAHS & HTTP Công an thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn;
2. Ông Nông Văn Toán - Cán bộ đội CSTHAHS & HTTP Công an thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn;
3. Ông Hoàng Văn Phúc - CSNV đội CSTHAHS & HTTP Công an thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn;
4. Ông Đồng Văn Lang - CSNV đội CSTHAHS & HTTP Công an thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn;
5. Ông Hoàng Văn Quyến - CSNV đội CSTHAHS & HTTP Công an thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn;
6. Ông Đặng Đức Quý - CSNV đội CSTHAHS & HTTP Công an thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 17 giờ 00 phút, ngày 03/8/2023, tại khu vực tổ B, phường Huyền Tụng, thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn, tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế-Ma túy Công an thành phố Bắc Kạn bắt quả tang đối với Nông Văn T về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Phát hiện và thu giữ trong lòng bàn tay phải của T 01 (một) gói được gói bằng giấy một mặt màu trắng, một mặt màu vàng bên trong có chứa chất bột màu trắng nghi là ma túy loại heroine (được niêm phong trong phong bì ký hiệu T1). Ngoài ra, còn tạm giữ của Nông Văn T 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 97B1 - 903… cùng chìa khóa xe đã qua sử dụng.
Cơ quan CSĐT Công an thành phố Bắc Kạn tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu T1 thu giữ của Nông Văn T, xác định khối lượng là 0,18 gam (không phẩy một tám gam). Sau khi cân xác định khối lượng, toàn bộ số chất bột màu trắng nói trên được niêm phong trong phong bì ký hiệu M1 gửi giám định; phong bì ký hiệu T1, giấy gói cũ được niêm phong vào phong bì ký hiệu M2 bảo quản theo quy định.
Tại Kết luận giám định số 255/KL-KTHS ngày 10/8/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn kết luận: Mẫu chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu M1 gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có khối lượng là 0,18g (không phẩy một tám gam). Sau giám định, mẫu chất còn lại cùng phong bì, bao gói cũ niêm phong vào phong bì T148 hoàn trả lại Cơ quan điều tra.
Tại Cơ quan điều tra, Nông Văn T khai nhận: Toàn bộ số chất bột màu trắng bị thu giữ khi bắt quả tang là ma túy, loại heroine của T tàng trữ với mục đích để sử dụng cho bản thân. Về nguồn gốc số ma tuý, T khai nhận: Bản thân T là người nghiện ma túy, khoảng 16 giờ 00 phút ngày 03/8/2023, T đi bộ từ nhà tại tổ P, phường H, thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn đến khu vực cầu thuộc tổ A, phường Nguyễn Thị Minh Khai, thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn và mượn chiếc xe mô tô biển kiểm soát 97B1-903… của anh Nguyễn Duy B, sinh năm 1989, trú tại tổ Đ - K, phường H, thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn (anh B là người quen của T) và bảo với anh B là đi có chút việc, anh B đồng ý. Sau đó, T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 97B1-903… đi tìm mua ma túy về để sử dụng cho bản thân. Khi đến khu vực tổ N, phường H, thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn, T gặp một người phụ nữ (không rõ lai lịch, địa chỉ), qua trao đổi T hỏi người này có ma túy, loại heroine bán không thì người này nói là có. T đưa cho người phụ nữ này số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), người này đưa cho T 01 (một) gói ma túy, loại heroine. Sau khi mua ma túy xong, T cầm ma túy trong lòng bàn tay phải và tiếp tục điều khiển xe mô tô kiểm soát 97B1-903… đi tìm nơi sử dụng ma túy. Khoảng 17 giờ 00, ngày 03/8/2023, T đi đến khu vực cổng chào, thuộc tổ B, phường H, thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn thì bị lực lượng Công an kiểm tra, bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.
Lời khai nêu trên của Nông Văn T phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Tại phiên toà sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố. Tại Cáo trạng số 81/CT-VKSTP ngày 16/11/2023 của VKSND thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn truy tố bị cáo Nông Văn T về tội “Tàng Trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự và tại bản luận tội của Viện kiểm sát tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, cụ thể như sau:
*Tuyên bố bị cáo Nông Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nông Văn T từ 18 (mười tám) tháng tù đến 24 (hai mươi tư) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 03/8/2023 và không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
*Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T148; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu M2.
*Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo nói lời sau cùng, mong Hội đồng xét xử xem xét xử với mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Bắc Kạn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên toà, bị cáo Nông Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đủ cơ sở kết luận: Hồi 17 giờ 00 phút, ngày 03/8/2023, tại tổ B, phường H, thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn, Nông Văn T có hành vi tàng trữ trái phép 0,18 gam (không phẩy một tám gam) ma túy, loại Heroine với mục đích sử dụng cho bản thân thì bị Cơ quan Công an phát hiện, bắt quả tang.
Hành vi nêu trên của Nông Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Điều luật có nội dung:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
... c) Heroine, Methamphetamine… có khối lượng từ 0,1gam đến dưới 05 gam;…
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 5 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”
Cáo trạng số 81/CT-VKSTPBK ngày 16/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét tính chất hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là cố ý, đã vi phạm chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của nhà nước, ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an - xã hội của địa phương. Vì vậy, phải được xử lý bằng pháp luật hình sự nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ là: Người phạm tội thành khẩn khai báo; Bị cáo phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “tái phạm”. Xét bị cáo có nhân thân xấu, sau khi chấp hành xong hình phạt tù bị cáo không lấy đó làm bài học rút kinh nghiệm, mà lại lao vào con đường nghiện chất ma tuý, nên khi xem xét lượng hình cần phải có một hình phạt thỏa đáng tương ứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra. Bị cáo đã có thời gian bị tạm giữ, tạm giam nên được tính vào thời gian thụ hình cho bị cáo.
Trong vụ án này, còn có người phụ nữ đã bán ma tuý cho Nông Văn T vào ngày 03/8/2023, tại tổ N, phường H, thành phố Bắc Kạn, do bị cáo không biết rõ họ tên, địa chỉ nên Cơ quan điều tra không đủ cơ sở để xác minh, làm rõ.
Về vật chứng trong vụ án:
- 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T148; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu M2. Tất cả đều không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 97B1-903… cùng chìa khóa xe, qua điều tra xác định là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Văn K, sinh năm 1996, trú tại tổ Đ-K, phường H, thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn (là em ruột và sống cùng nhà với anh Nguyễn Duy B). Ngày 03/8/2023, Nông Văn T mượn chiếc xe mô tô nói trên rồi sử dụng để đi mua ma túy thì anh B và anh K không biết, do đó Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe cho anh K là đúng quy định.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo nghiện chất ma túy và không có tài sản, nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không áp dụng.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, mức hình phạt chính, hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng và án phí đối với bị cáo là phù hợp, có cơ sở để chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Nông Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
*Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
- Xử phạt: bị cáo Nông Văn T 20 (hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 03/8/2023.
2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T148; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu M2.
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 04/12/2023 giữa Công an thành phố Bắc Kạn và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn).
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về án phí. Buộc bị cáo Nông Văn T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách nhà nước.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự” - Theo Điều 26 Luật thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bắc Kạn (01b); - VKSND tỉnh Bắc Kạn (01b); - VKSND thành phố Bắc Kạn (01b); - Công an thành phố Bắc Kạn (02b); - Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Kạn (Khi án có hiệu lực - 01b); - Sở Tư pháp; - Người tham gia tố tụng (01b); - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tạ Văn Tư |