vanban.org

Bản án 10/2023/HS-ST — Hình sự

TAND Quận 11, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 21/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo L Q T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo L Q T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08/11/2022. Tịch thu, tiêu hủy một gói được niêm phong là ma túy còn lại sau giám định (theo Lệnh nhập kho vật chứng số 07/LNK-ĐCSMT ngày 26/12/2022 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo L Q T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị định số 105/2021/NĐ-CP Quy định chi tiết và hướng dẫn t…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2023/HS-ST
Ngày 21/02/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Cơ Dũng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Thùy Dương

2. Ông Nguyễn Thanh Tịnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Lương Diệu Thu – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 11

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa:

Ông Trần Vi Hải - Kiểm sát viên.

Trong ngày 21 tháng 02 năm 2023, tại Phòng xử án hình sự, trụ sở Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 08/2023/TLST-HS ngày 18 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2023/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 01 năm 2023 đối với bị cáo:

L Q T (tên gọi khác: Không có); sinh ngày 21/12/1994, tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: xx Lãnh Binh Thăng, Phường x, Quận x, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông L T Q (chết) và bà D T B; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 12/10/2021 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân Quận 11 ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền với mức phạt là 15.000.000 đồng về hành vi tàng trữ trái phép vũ khí thể thao (Tuấn chưa đóng phạt). Ngày 04/7/2022, bị Công an Phường 13, Quận 11 ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền với mức phạt là 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (Tuấn đã đóng phạt xong), đồng thời bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường 13, Quận 11 ra quyết định áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy theo Nghị định 105/2021/NĐ-CP trong thời hạn 01 năm, kể từ ngày 04/7/2022. Nhân thân: Ngày 04/7/2017 “Tổ chức đánh bạc” bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù về tội “Tổ chức đánh bạc” (bản án số 477/2019/HSST ngày 21/11/2019 và bản án số 53/2020/HSPT của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh ngày 19/02/2020). Chấp hành xong bản án, đương nhiên xóa án tích; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/11/2022 tại Nhà tạm giữ Công an Quận 11; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 22 giờ 45 phút ngày 01/11/2022 Công an Phường 13, Quận 11 nhận được tin báo của quần chúng nhân dân về việc đối tượng L Q T (sinh năm 1994) có hành vi la hét, có biểu hiện của người đã sử dụng ma túy, nên tổ công tác Công an Phường 13 đến giải quyết. Khi tổ công tác đi đến trước cửa nhà số xx Lãnh Binh Thăng, Phường x, Quận x thì phát hiện L Q T trên tay cầm 01 gói nylon chứa tinh thể là ma túy. Công an Phường 13, Quận 11 đã đưa L Q T cùng vật chứng (có người chứng kiến) về trụ sở làm rõ và chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11 giải quyết.

Tại bản Kết luận giám định số 6361/KL-KTHS ngày 09/11/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh xác định: 01 gói nylon chứa tinh thể không màu đã được niêm phong, bên ngoài có các dấu vân tay, chữ ký của người chứng kiến gồm Sẳm Đính Lùng, Trần Phước Thiện và hình dấu tròn của Công an Phường 13, Quận 11 là ma túy ở thể rắn, khối lượng 0,1348g, loại Methamphetamine.

Tại Cơ quan điều tra, bị can L Q T thừa nhận: Vào ngày 01/11/2022, bị can L Q T đi đến khu vực góc đường Lò Siêu – Lãnh Binh Thăng thuộc Phường 13, Quận 11 mua 01 gói ma túy của người tên Phúc (không rõ nhân thân, lai lịch) với giá là 300.000 đồng, sau đó bị can T mang về nhà để sử dụng. Sau khi sử dụng ma túy xong thì bị can T trong trạng thái tinh thần không tỉnh táo, đã vứt sim điện thoại của mình nên bị can T không biết hiện nay sim điện thoại ở đâu. Đến tối cùng ngày, khi bị can đang la lối ở trước cửa nhà số xx Lãnh Binh Thăng, Phường x, Quận x thì Công an Phường 13, Quận 11 đến làm việc, phát hiện gói ma túy trên tay của bị can T nên đã đưa bị can T cùng vật chứng về trụ sở Công an Phường 13, Quận 11 làm rõ.

Qua xét nghiệm chất ma túy, kết quả xác định bị can L Q T dương tính với ma túy.

Vật chứng vụ án:

- Một gói nylon được niêm phong ghi vụ 6361-1285/22 bên ngoài có chữ ký của giám định viên sau giám định.

- Một ống thủy tinh đầu phễu tròn.

Tại Bản cáo trạng số 13/CT-VKSQ11 ngày 18/01/2023, Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 truy tố bị can L Q T tội danh “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, bị cáo L Q T có lời khai phù hợp với các lời khai tại Cơ quan điều tra Công an Quận 11 và những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 trình bày lời luận tội, đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù; đề nghị xử lý vật chứng như sau: Tịch thu tiêu hủy một gói niêm phong là ma túy còn lại sau giám định và một ống thủy tinh đầu phễu tròn.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác có trong hồ sơ vụ án;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Vào lúc 22 giờ 45 phút ngày 01/11/2022, tại trước nhà số xx Lãnh Binh Thăng, Phường x, Quận x, bị cáo L Q T đã có hành vi cất giữ một gói nylon chứa chất ma túy ở thể rắn, khối lượng 0,1348g, loại Methamphetamine.

Bị cáo L Q T khai nhận bản thân nghiện ma túy và cất giữ ma túy để sử dụng. Lời khai này phù hợp với kết quả xét nghiệm chất ma túy qua nước tiểu của bị cáo do Bệnh viện Quận 11 thực hiện vào ngày 02/11/2022.

Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Bị cáo có đầy đủ năng lực hành vi, biết rõ ma túy là chất gây nghiện mang tính độc hại cao bị Nhà nước cấm mua bán, tàng trữ, vận chuyển. Song do nghiện ma túy và muốn thỏa mãn cơn nghiện, bị cáo đã bất chấp pháp luật, cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm hại đến chính sách của Nhà nước về độc quyền quản lý các chất gây nghiện, là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an xã hội, chống lại chủ trương bài trừ tệ nạn ma túy của Nhà nước. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để trừng trị và giáo dục bị cáo, đồng thời cũng nhằm mục đích răn đe và phòng ngừa chung.

Về tình tiết định khung hình phạt:

Bị cáo tàng trữ chất ma túy là loại Methamphetamine, có khối lượng là 0,1348 gam (không phẩy một ba bốn tám gam) nên thuộc trường hợp phạm tội quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Bị cáo có nhân thân xấu, có hai tiền sự. Đối với bản án năm 2017 đã áp dụng đối với bị cáo thì đã đương nhiên xóa án tích nên không phải là tiền án.

Về xử lý vật chứng:

Đối với vật chứng là một gói niêm phong bên trong chứa ma túy còn lại sau giám định, là vật cấm tàng trữ; căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử giải quyết tịch thu, tiêu hủy.

Đối với vật chứng là một ống thủy tinh đầu phễu tròn là dụng cụ bị cáo dùng để sử dụng ma túy; căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử giải quyết tịch thu, tiêu hủy.

Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo L Q T, điều tra viên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11, kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 được phân công điều tra, kiểm sát giải quyết vụ án đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Căn cứ diễn biến tại phiên tòa, thông qua phần xét hỏi, tranh luận nhận thấy lời khai, chứng cứ phạm tội phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của điều tra viên, kiểm sát viên. Do đó, có cơ sở để xác định các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.

Về xem xét vai trò, trách nhiệm của đối tượng có liên quan trong vụ án:

Đối với đối tượng tên Phúc là người đã bán ma túy cho bị cáo T, do không xác định được lai lịch của đối tượng nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để truy cứu trách nhiệm là có căn cứ; khi điều tra, truy xét được sẽ xử lý sau.

Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 38; Điều 50; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Tuyên bố bị cáo L Q T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo L Q T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08/11/2022.

Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Tịch thu, tiêu hủy một gói được niêm phong là ma túy còn lại sau giám định (theo Lệnh nhập kho vật chứng số 07/LNK-ĐCSMT ngày 26/12/2022 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11).

Tịch thu, tiêu hủy một một ống thủy tinh đầu phễu tròn (theo Lệnh nhập kho vật chứng số 109/LNK-ĐCSMT ngày 07/11/2022 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11).

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo phải chịu là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ