- Tranh chấp gì? án hình sự — "Thạch Thiện-Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Thạch T phạm tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VL | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BẠC LIÊU ––––––––––––––– Bản án số: 10/2023/HS-ST Ngày 30-3-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VL, TỈNH BẠC LIÊU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Phan Công Trí.
- Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Trần Thị Phương Anh.
Ông Phạm Văn Sáu.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Nhựt – Thư ký Tòa án nhân dân huyện VL, tỉnh Bạc Liêu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện VL, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Thuật - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 3 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện VL, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến (gồm 02 điểm cầu như sau: Điểm cầu trung tâm tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện VL, tỉnh Bạc Liêu (Địa chỉ: Ấp Xẻo Chích, thị trấn Châu Hưng, huyện VL, tỉnh Bạc Liêu); với sự tham gia của Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên, Thư ký phiên tòa. Điểm cầu thành phần tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu (Địa chỉ: Số 22, đường Bà Triệu, Phường 3, thành phố BL, tỉnh Bạc Liêu); với sự tham gia của người tham gia tố tụng: Bị cáo Thạch T, sinh ngày 01/01/1970. Nơi cư trú: Ấp Cù Lao, xã Hưng Hội, huyện VL, tỉnh Bạc Liêu. SĐT; 0914.672.601; Cảnh sát hỗ trợ tư pháp.) vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 08/2023/TLST-HS ngày 09 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2023/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 3 năm 2023 đối với bị cáo:
THẠCH T (tên gọi khác: không), sinh ngày 01/01/1970 tại Bạc Liêu.
Nơi cư trú: Ấp Cù Lao, xã Hưng Hội, huyện VL, tỉnh Bạc Liêu; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hoá (học vấn): 02/12; dân tộc: Khơme (Khmer); giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Thạch Tu (đã chết) và bà Danh Thị N (đã chết); có vợ tên: Trương Bích D, sinh năm 1976 và 03 con; tiền án: không; tiền sự: Ngày 31/5/2022, bị Công an huyện VL xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi Đánh bạc tại Quyết định số 84/QĐ-XPHC; bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 13/12/2022; hiện bị cáo đang được tại ngoại tại ấp Cù Lao, xã Hưng Hội, huyện VL, tỉnh Bạc Liêu (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 14 giờ 35 phút ngày 28/10/2022, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Hình sự - Kinh tế - Ma túy Công an huyện VL, tỉnh Bạc Liêu phối hợp cùng Công an xã Hưng Hội, huyện VL, tỉnh Bạc Liêu kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang 02 (Hai) đối tượng: Thạch T và Nguyễn Văn H cùng một số đối tượng khác (chạy thoát) đang có hành vi lắc bầu cua ăn tiền phía trước nhà của bà Danh Thị Đ thuộc ấp Cù Lao, xã Hưng Hội, huyện VL, tỉnh Bạc Liêu.
- Tại hiện trường lực lượng Công an thu giữ: Số tiền Việt Nam là 5.000 đồng, 01 bộ dụng cụ lắc bầu cua.
- Kiểm tra trên người các đối tượng tạm giữ các tang vật như sau:
+ Thạch T: Số tiền Việt Nam là 1.054.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO đã qua sử dụng.
+ Nguyễn Văn Hưng: Số tiền Việt Nam là 2.100.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung đã qua sử dụng.
Quá trình điều tra xác định: Việc chơi lắc bầu cua ăn tiền có khoảng 07 người tham gia. Hình thức chơi: T là người người trực tiếp làm nhà cái (cầm lắc), những người khác tham gia với vai trò đặt tụ thắng thua trực tiếp bằng tiền mặt, những người đặt tụ chọn hình những con vật được in sẵn trên giấy như Bầu, Cua, Tôm, Cá, Nai, Gà và đặt cược tiền vào hình con vật. Người đặt tụ đặt tiền xong, T cầm thau lắc và mở ra, nếu mặt trên của ba viên xúc xắc có hình trùng khớp với hình những người đặt tụ đã đặt thì người đặt tụ thắng với tỉ lệ 01 hình x 1, 02 hình x 2, 03 hình x 3, và nếu mặt trên của ba viên xúc xắc không trùng khớp với hình mà người đặt tụ đã đặt thì nhà cái thắng, kết thúc ván bầu cua thì trả bằng tiền mặt và tiếp tục mở ván mới. T tham gia chơi được khoảng 20 phút và đã được nhiều ván, mỗi ván người đặt tụ đặt cược từ 10.000 đồng đến 40.000 đồng. Trước khi chơi lắc bầu cua,T đem theo số tiền 1.040.000 đồng và dùng hết số tiền này để chơi lắc bầu cua, khi lực lượng công an bắt quả tang thì T thắng được số tiền 14.000 đồng. Bộ lắc bầu cua do T mua và đem đến nhà bà Đ để chơi, tại thời điểm chơi không có ai lấy tiền xâu.
Nguyễn Văn H đi ngang qua và thấy có nhiều người đang tập trung chơi lắc bầu cua, nên vào tham gia với vai trò đặt tụ. Khi vào chơi H đem theo số tiền là 2.100.000 đồng, H đã dùng 100.000 đồng để đặt cược.
Như vậy, số tiền các đối tượng dùng vào việc đánh bạc là: 1.159.000 đồng (Thạch T: 1.054.000 đồng, Nguyễn Văn H: 100.000 đồng, tiền trên chiếu bạc: 5.000 đồng).
Tại bản Cáo trạng số 08/CT-VKS ngày 06 tháng 3 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện VL truy tố bị cáo Thạch T về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
- Kiểm sát viên giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
+ Tuyên bố bị cáo Thạch T phạm tội “Đánh bạc”.
+ Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, khoản 3 Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Thạch T từ 03 tháng đến 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành hình phạt.
+ Về vật chứng: Áp dụng khoản 1, điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017. Tịch thu 1.059.000 đồng (trên chiếu bạc: 5.000 đồng, Thạch T: 1.054.000 đồng) là tiền do phạm tội mà có, nộp ngân sách Nhà nước. Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) bộ dụng cụ dùng để lắc bầu cua đã qua sử dụng.
+ Đối với Nguyễn Văn H có hành vi đánh bài ăn tiền, nhưng số tiền các đối tượng dùng để đánh bạc không đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự, những người này chưa có tiền án, tiền sự về tội đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc nên chưa đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 321 Bộ luật Hình sự, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện VL tỉnh Bạc Liêu đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối tượng nêu trên là phù hợp.
+ Đối với những người đánh bạc chung với bị cáo Thạch T đã chạy trốn, do chưa xác minh được, nên giao Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện VL tiếp tục điều tra xác minh xử lý sau.
- Bị cáo Thạch T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố đối với bị cáo. Sau khi nghe Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện VL, tỉnh Bạc Liêu trình bày luận tội, bị cáo không có ý kiến tranh luận, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện VL, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện VL, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa bị cáo Thạch T không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Bị cáo Thạch T là dân tộc Khmer, quá trình sinh sống cùng người Kinh từ nhỏ nên bị cáo nghe rõ và hiểu biết tiếng Việt. Trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không yêu cầu người phiên dịch, đồng thời quá trình xét hỏi tại phiên tòa bị cáo đối đáp lưu loát tiếng Việt những câu hỏi do những người tiến hành tố tụng đưa ra. Do đó, Hội đồng xét xử không yêu cầu người phiên dịch cho bị cáo là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 70 Bộ luật tố tụng hình sự.
Về nội dung vụ án:
Lời khai nhận tội của bị cáo Thạch T tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của chính bị cáo trong giai đoạn điều tra; lời khai của bị cáo về thời gian, địa điểm, cách thức đánh bạc phù hợp với lời khai của những người cùng đánh bạc; đồng thời phù hợp với các chứng cứ khác đã được thu thập trong giai đoạn điều tra và thẩm tra làm rõ tại phiên tòa như: biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản tang vật bị tạm giữ, … Do đó, đủ căn cứ chứng minh: Vào lúc 14 giờ 35 phút ngày 28/10/2022, tại ấp Cù Lao, xã Hưng Hội, huyện VL, tỉnh Bạc Liêu, bị cáo Thạch T đã thực hiện hành vi đánh bạc trái phép dưới hình thức lắc “Bầu Cua” thắng thua bằng tiền với những người khác.
Tiền thu trên chiếu bạc 5.000 đồng, bị cáo Thạch T đã thắng được 14.000 đồng, đối tượng Nguyễn Văn H đánh bạc được thua với số tiền 100.000 đồng. Tuy nhiên, cơ quan cảnh sát điều tra thu giữ trên người của bị cáo Thạch T 1.040.000 đồng, không có căn cứ nào để xác định số tiền này bị cáo T đánh bạc (đã trừ đi số tiền 14.000 đồng thắng) ngoài lời khai của bị cáo T. Số tiền 2.000.000 đồng thu giữ trên người của đối tượng Nguyễn Văn H không liên quan đến hành vi đánh bạc, nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho đối tượng. Do đó, chỉ xác định tổng số tiền đánh bạc được thua là 119.000 đồng.
Tại Quyết định số 84/QĐ-XPHC ngày 31/5/2022 của Công an huyện VL, tỉnh Bạc Liêu xử phạt hành chính Thạch T 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc. Ngày 20/10/2022 chấp hành xong. Tính đến ngày 28/10/2022 là chưa được 01 năm, chưa được xem là không còn tiền sự theo quy định tại khoản 1 Điều 7 của Luật xử lý vi phạm hành chính.
Trước, trong và sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo Thạch T có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp.
Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 nên việc Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội danh, điều luật và đề xuất mức hành phạt nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định:
“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.”
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Thạch T có 01 tiền sự, nhưng đây là dấu hiệu định tội nên không được coi là tình tiết tăng nặng theo quy định tại khoản 2 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa bị cáo Thạch T đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo là người dân tộc Khmer, có học vấn thấp, bị cáo đang bị bệnh, nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm i, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, nhưng khung hình phạt của bị cáo là khung hình phạt nhẹ nhất, nên Hội đồng xét xử quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt theo quy định tại khoản 3 Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Xét thấy bị cáo đánh bạc với số tiền ít, hoàn cảnh gia đình khó khăn, Hội đồng xét xử không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền theo quy định tại khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Đối với hành vi đánh bạc của Nguyễn Văn H, không đủ yếu tố cấu thành tội phạm để truy cứu trách nhiệm hình sự, nên Cơ quan cảnh sát điều tra chuyển xử phạt vi phạm hành chính là có căn cứ.
Đối với hành vi đánh bạc của những đối tượng chơi chung với bị cáo Thạch T đã chạy thoát, nên giao cho cơ quan điều tra tiếp tục xem xét, xử lý sau.
Đối với việc bị cáo Thạch T dùng nhà của bà Danh Thị Đ để đánh bạc, bà Đ không có mặt tại địa phương và không biết, nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện VL không xử lý là có căn cứ.
Về vật chứng vụ án:
Đối với 01 (Một) bộ dụng cụ dùng để lắc bầu cua là công cụ phạm tội, không có giá trị nên tịch thu và tiêu hủy, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Đối với số tiền thu giữ trên chiếu bạc 5.000 đồng, trên người của Thạch T 14.000 đồng, là tiền do phạm tội mà có nên tịch thu, nộp ngân sách nhà nước, theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Số tiền 100.000 đồng thu giữ của đối tượng Nguyễn Văn H, là tang vật trong vụ án hình sự, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện VL chuyển xử lý vi phạm hành chính tịch thu sung quỹ Nhà nước là chưa chính xác theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, không gây ra hậu quả nghiêm trọng, đề nghị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện VL rút kinh nghiệm.
Số tiền 1.040.000 đồng thu giữ trên người của bị cáo Thạch T, ngoài lời khai của bị cáo thì không còn chứng cứ nào khác chứng minh số tiền này bị cáo có được là do đánh bạc (do phạm tội mà có), nên hoàn trả cho bị cáo theo quy định tại khoản 1, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo bị kết tội nên phải chịu án phí 200.000 đồng, theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện VL là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Bị cáo nếu không đồng ý, có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại khoản 1 Điều 331 và khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Thạch T phạm tội “Đánh bạc”.
Căn cứ khoản 1 Điều 321, khoản 1 Điều 38, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 3 Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Thạch T 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày bị cáo đi chấp hành hình phạt tù.
2. Về vật chứng: Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 1, điểm a, b khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
2.1. Tịch thu, tiêu hủy 01 (Một) bộ dụng cụ dùng để lắc bầu cua ( gồm: 01 cái mâm, thao bằng kim loại, đã qua sử dụng; 01 tờ giấy và 03 viên xúc xắc bề mặt có các hình: Bầu, Tôm, Cua, Cá, Hưu, Nai).
2.2. Tịch thu, nộp Ngân sách Nhà nước số tiền 19.000 đồng (Mười chín ngàn đồng).
2.3. Trả lại cho bị cáo Thạch T số tiền 1.040.000 đồng (Một triệu không trăm bốn mươi ngàn đồng).
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 20/3/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện VL và Giấy nộp tiền ngày 13/02/2023 của Chi nhánh Ngân hàng N0&PTNT huyện VL, tỉnh Bạc Liêu).
3. Về án phí hình sự sơ thẩm:
Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Thạch T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng).
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ khoản 1 Điều 331 và khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Án xử công khai, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (30/3/2023).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận - TAND tỉnh Bạc Liêu; - VKSND tỉnh Bạc Liêu; - Sở Tư pháp tỉnh Bạc Liêu; - VKSND huyện VL; - Nhà Tạm giữ Công an huyện VL; - Công an huyệnVL; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện VL; - UBND xã Hưng Hội, huyện VL, tỉnh Bạc Liêu; - Bị cáo; - Lưu HSVA. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA: Lê Phan Công Trí |