- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Ng V Đ, H V H phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TƢƠNG DƢƠNG TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 10/2023/HS-ST Ngày 21-02-2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T D - TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thị Ái
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Đình Hưng
Ông Cụt Xuân Ninh
- Thư ký phiên tòa: Bà Vy Phương Thảo- Thư ký Toà án nhân dân huyện T D, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T D tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Võ Trọng Thắng- Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T D, tỉnh Nghệ An đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 05/2023/TLST-HS ngày 11 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2023/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 02 năm 2023 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Ng V Đ, tên gọi khác: Không; Sinh ngày 06 tháng 6 năm 1987 tại huyện Q H, tỉnh Nghệ An; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Xóm L M, xã Ch Th, huyện Q H, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hoá: 5/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: không xác định được và con bà Ng Th D; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 15 tháng 11 năm 2022 đến nay. Có mặt
2. Họ và tên: H V H, tên gọi khác: Không; Sinh ngày 16 tháng 01 năm 1996 tại huyện Q H, tỉnh Nghệ An; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Xóm Đ M, xã Ch Th, huyện Q H, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông H V và con bà V Th H; Vợ, con: chưa có; Tiền sự: Không, tiền án: Năm 2020 bị Tòa án nhân dân thành phố B N, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 26 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo bản án số 184/2020/HSST ngày 29/9/2020. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 15 tháng 11 năm 2022 đến nay. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo H V H: Bà Hoàng Thị Hà – Trợ giúp viên pháp lý thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Nghệ An. Có mặt
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị V Th H, sinh năm 1977. Trú tại: Xóm Đ M, xã Ch Th, huyện Q H, tỉnh Nghệ An. Có mặt
- Người chứng kiến: Anh L V Ch. Vắng mặt tại phiên tòa
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 18 giờ ngày 14/11/2022, Ng V Đ đi đến nhà của H V H để rủ H đi mua ma túy để sử dụng. Do không có xe nên Đ nói H lấy xe máy chở Đ. H đồng ý rồi điều khiển xe máy nhãn hiệu HONDA Biển kiểm soát 37H1-455.44 chở Đ đi từ Xóm Đ M, xã Ch Th, huyện Q H, tỉnh Nghệ An đến bản Đ, xã L M, huyện T D, tỉnh Nghệ An để mua ma túy. Đến nơi, Đ và H đi đến nhà của L X L, sinh năm 1981, Đ nói H đứng ngoài cổng còn Đ một mình gặp L và nói: “Lấy cho em 1.500.000 đồng Heroine” thì L trả lời: “Hết hàng rồi vào nhà ngủ chờ sáng mai lấy”, Nghe vậy, Đ đưa cho L số tiền 1.500.000 đồng. Đưa tiền cho L xong, Đ quay lại nói với H đi vào nhà L ngủ.
Đến khoảng 07 giờ, ngày 15/11/2022, L gọi Đ dậy đi ra ngoài nhà và đưa cho Đ 01 gói ma túy Heroine bên ngoài được gói bằng 02 lớp, lớp thứ nhất là bao Potylen màu trắng, lớp thứ hai là bao Potylen màu vàng. Ng V Đ cầm gói ma túy Heroine rồi quay vào phòng mở ra lấy một ít cùng với H V H sử dụng. Sử dụng ma túy Heroine xong, H đi ra lấy xe máy còn Đ ngồi lại chia gói ma túy Heroine ra thành 02 gói, gói thứ nhất được gói bằng bao Potylen màu trắng, gói thứ hai được gói bằng 02 lớp lớp thứ nhất là bao Potylen màu trắng, lớp thứ hai là bao Potylen màu vàng rồi cất dấu trong cổ áo khoác đang mặc rồi đi ra ngồi lên xe máy do H điều khiển đi về nhà.
Đến khoảng 10 giờ cùng ngày, khi H V H điều khiển xe máy chở Ng V Đ đi về đến bản Kh Q, xã X M, huyện T D, tỉnh Nghệ An thì bị tổ công tác công an huyện T D yêu cầu dừng xe kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổ công tác đã phát hiện và thu giữ trong cổ áo khoác đang mặc của Ng V Đ 02 gói ma túy, gói thứ nhất được gói bằng bao Potylen màu trắng bê trong chứa chất bột màu trắng nghi ma túy Heroine, gói thứ hai được gói bằng 02 lớp lớp thứ nhất là bao Potylen màu trắng, lớp thứ hai là bao Potylen màu vàng bên trong cũng chứa chất bột màu trắng nghi ma túy Heroine đồng thời tạm giữ của H V H 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA, biển kiểm soát 37H1-455.44. Ng V Đ, và H V H khai nhận hai gói chất bột màu trắng là ma túy Heroine do Đ và H cùng nhau đi mua về để sử dụng. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng theo quy định của pháp luật.
Tại bản Kết luận giám định số: 1289 /KL- KTHS (Đ2 - MT), ngày 21/11/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: 02 (hai) mẫu chất bột màu trắng thu giữ của Ng V Đ và H V H gửi tới giám định là ma túy Heroine có tổng khối lượng là 3,44 (Ba phẩy bốn mươi bốn) gam.
Bản cáo trạng số 11/CT-VKS-TD ngày 09 tháng 01 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện T D đã truy tố Ng V Đ, H V H về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố của Bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Ng V Đ mức án từ 03 năm 03 tháng đến 03 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm g khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt H V H mức án 03 năm 03 tháng đến 03 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Miễn án phí hình sự sơ thẩm và hình phạt bổ sung cho các bị cáo, xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy vật chứng còn lại của vụ án;
Người bào chữa cho bị cáo H V H không có ý kiến tranh luận với bản luận tội và đề xuất Hội đồng xét xử xem xét đến việc nhận thức pháp luật của bị cáo đang còn hạn chế, cư trú ở vùng sâu, vùng xa nên áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự lượng hình ở mức thấp nhất theo đề nghị của Kiểm sát viên đối với bị cáo cụ thể là 03 năm 03 tháng tù, miễn án phí hình sự sơ thẩm và hình phạt bổ sung cho bị cáo H.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, không có ý kiến gì tranh luận. Lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án, các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để nhanh chóng trở về với gia đình và xã hội
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an huyện T D, tỉnh Nghệ An, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T D, tỉnh Nghệ An quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Hành vi phạm tội của các bị cáo: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo Ng V Đ, H V H đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp lời khai của người chứng kiến đã được công bố công khai tại phiên tòa, phù hợp với biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, và các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ. Vì vậy có đủ cơ sở để kết luận: Vào lúc 10 giờ, ngày 15/11/2022, tại bản Kh Q, xã X M, huyện T D, tỉnh Nghệ An, Ng V Đ và H V H đã có hành vi tàng trữ trái phép 3,44 (Ba phẩy bốn mươi bốn) gam ma túy Heroine với mục đích để sử dụng. Hành vi mà các bị cáo đã thực hiện và khối lượng vật chứng thu được đã cấu thành tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Như vậy quyết định truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân huyện T D đối với các bị cáo về tội danh và điều khoản trên là có căn cứ đúng pháp luật.
Tính chất, mức độ hậu quả của vụ án: Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự đã cố ý thực hiện tội phạm nghiêm trọng xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an tại địa phương và là một trong những nguyên nhân gây nên các tệ nạn xã hội và tội phạm. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm, cách ly các bị cáo ra khỏi cộng đồng xã hội một thời gian nhất định để nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Đây là vụ án có nhiều người tham gia thực hiện tội phạm với tính chất đồng phạm giản đơn nên cần phân hóa vai trò của từng người để áp dụng hình phạt sát đúng.
Ng V Đ là người khởi xướng, rủ bị cáo H đi mua ma túy, bị cáo H là người giúp sức tích nên cần lên mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo H có 01 tiền án đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 bộ luật hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Thái độ khai báo của các bị cáo là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử áp dụng các tỉnh tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo và lượng hình ở mức theo lời đề nghị của Kiểm sát viên là thỏa đáng. Chấp nhận lời đề nghị của người bào chữa lượng hình đối với bị cáo H ở mức thấp nhất như lời đề nghị của Kiểm sát viên.
Hình phạt bổ sung: Kết quả xác minh tài sản của các bị cáo chỉ đủ duy trì cuộc sống thiết yếu hàng ngày và không có tài sản nào được tạo lập từ việc phạm tội nên chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
Đối với L X L người đã bán ma túy cho Ng V Đ. Qua xác minh hiện L không có mặt tại địa phương, cơ quan điều tra tiếp tục xác minh và xử lý sau.
Xử lý vật chứng:
- 3,44g Heroine (đã lấy 0,4g để đi giám định) là vật cấm lưu hành không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy;
- Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA, biển kiểm soát 37H1-455.44 đã qua sử dụng bị tạm giữ. Quá trình điều tra xác định đây là tài sản thuộc sở hữu của bà V Th H (mẹ đẻ của H V H), sinh năm 1977, trú tại xóm Đ M, xã Ch Th, huyện Q H, tỉnh Nghệ An. Việc H sử dụng chiếc xe để chở Ng V Đ đi mua ma túy bà Hương không biết. Nên ngày 22/12/2022, Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện T D đã ra quyết định xử lý vật chứng chiếc xe cho bà V Th H theo đúng quy định của pháp luật. Tại phiên tòa chị H không yêu cầu bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Án phí và quyền kháng cáo: Các bị cáo Ng V Đ, H V H là người dân tộc thiểu số, bị cáo Đ thuộc gia đình hộ nghèo, bị cáo H thuộc hộ cận nghèo nên Hội đồng xét xử chấp nhận lời đề nghị của Kiểm sát viên miễn án phí hình sự sơ thẩm các bị cáo. Các bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
- Tuyên bố các bị cáo Ng V Đ, H V H phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Ng V Đ.
- Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm h khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo H V H.
+ Xử phạt: Ng V Đ 03 (Ba) năm 04 (Bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 15/11/2022.
+ Xử phạt: H V H 03 (Ba) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/11/2022.
- Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
+ Tiêu hủy vật chứng còn lại của vụ án (Đặc điểm và tình trạng vật chứng như trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 10.01.2023 giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T D, tỉnh Nghệ An và Chi cục Thi hành án dân sự huyện T D, tỉnh Nghệ An);
- Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo Ng V Đ, H V H.
Các bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án là ngày 21/02/2023.
| Nơi nhận: - TAND, VKSND tỉnh NA; - VKSND huyện T D; - Công an huyện T D; - UBND xã Ch Th, Q H; - Người CQLVNVLQ; - Người bào chữa; - Các bị cáo, Trại tạm giam; - Sở Tư Pháp tỉnh Nghệ An; - Chi cục THADS huyện T D; - Lưu: VP, hồ sơ vụ án | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lƣơng Thị Ái |