vanban.org

Bản án 10/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang Tuyên án 06/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Đặng Thị B T, Nguyễn Thị M phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Đặng Thị B T 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Thời gian chấp hành hình phạt được tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã V, huyện T, tỉnh An Giang nhận được quyết định và bản sao bản án. Giao bị cáo T cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện T, tỉnh An Giang giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo T… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Thị Bé Thắm và đồng phạm - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Đặng Thị B T, Nguyễn Thị M phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THOẠI SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 10/2023/HS-ST
Ngày: 06/3/2023.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN,TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Triều.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Đức.

2. Ông Nguyễn Thiện Pháp.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Khuyên - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Hữu - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thoại Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 67/2022/TLST-HS ngày 30 tháng 12 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2023/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 02 năm 2023, đối với các bị cáo:

1/ Đặng Thị B T, sinh năm 1984. Nơi cư trú: ấp V, xã V, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn T1 (đã chết) và bà Lê Thị Kim L, sinh năm 1962; anh chị em ruột có hai người, bị cáo là người thứ nhất; Chồng là Huỳnh Văn T2, sinh năm 1979; Con có 02 người, lớn sinh năm 2004, nhỏ sinh năm 2013.

Tiền án: Không.

Tiền sự: Ngày 18/6/2022, bị Ủy ban nhân dân xã V, huyện T xử phạt vi phạm hành chính 2.000.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”, đã nộp phạt vào ngày 01/7/2022.

Bị cáo tại ngoại.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2/ Nguyễn Thị M, sinh năm 1994. Nơi cư trú: ấp B, xã Đ, huyện C, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đức T3 (đã chết) và bà Nguyễn Thị T4, sinh năm 1960; anh chị em ruột có bốn người, bị cáo là người thứ tư; Bị cáo chưa có chồng, con.

Tiền án: Không.

Tiền sự: Ngày 25/01/2022, bị Ủy ban nhân dân xã V, huyện T xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”, đã nộp phạt vào ngày 25/3/2022.

Bị cáo tại ngoại.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Chị Nguyễn Thị B, sinh năm 1984. Nơi cư trú: ấp V, xã V, huyện T, tỉnh An Giang (vắng mặt).

2/ Bà Đặng Thị Mỹ P, sinh năm 1974. Nơi cư trú: ấp V, xã V, huyện T, tỉnh An Giang (vắng mặt).

Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1970. Nơi cư trú: ấp V, xã V, huyện T, tỉnh An Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ ngày 09/7/2022, nhận được tin báo của quần chúng, Công an xã V, huyện T kiểm tra hành chính nhà của Nguyễn Thị H thuộc ấp V, xã V thì phát hiện H cùng Đặng Thị B T, Nguyễn Thị M, Nguyễn Thị B, Đặng Thị Mỹ P đang tham gia đánh bài tứ sắc (chơi kiểu xệp) được thua bằng tiền, mỗi ván từ 5.000 đồng đến 10.000 đồng nên lực lượng lập biên bản vi phạm hành chính; thu giữ: 03 bộ bài tứ sắc, 01 chiếc chiếu và 540.000 đồng dùng để đánh bạc, trong đó thu giữ của T 20.000 đồng, M 90.000 đồng, B 190.000 đồng, Phượng 180.000 đồng, trên chiếu bạc 60.000 đồng.

Quá trình điều tra xác định các ngày 25/01/2022, 18/6/2022 Nguyễn Thị M, Đặng Thị B T lần lượt bị Ủy ban nhân dân xã V, huyện T xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng và 2.000.000 đồng về hành vi đánh bạc, đã nộp phạt xong.

Ngày 18/10/2022, M, T bị khởi tố, điều tra.

Vật chứng và tài sản thu giữ gồm: 03 bộ bài tứ sắc, 01 chiếc chiếu, 540.000 đồng.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên bà Đặng Thị Mỹ P, chị Nguyễn Thị B và người làm chứng bà Nguyễn Thị H trình bày: Ngày xảy ra sự việc, Phượng, H, B và M cùng rủ nhau đến nhà của H để tham gia đánh bài tứ sắc ăn thua bằng tiền, mỗi ván từ 5.000 đồng đến 10.000 đồng. Khi tham gia được khoảng 07-08 ván thì bị Công an xã Vĩnh Khánh bắt quả tang. Việc đánh bạc này không ai tổ chức, không thu tiền xâu mà do nhóm của Phượng tự góp tiền mua bài tứ sắc về để đánh bạc.

Tại Bản cáo trạng số 07/CT-VKSTS-HS ngày 27/12/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang đã truy tố các bị cáo Đặng Thị B T, Nguyễn Thị M về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng, vật chứng thu giữ và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án.

Kiểm sát viên thực hành quyền công tố Nhà nước tại phiên tòa phát biểu luận tội đối với các bị cáo và giữ nguyên truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất của vụ án, hành vi phạm tội của các bị cáo, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật Hình sự;

Đề nghị xử phạt bị cáo Đặng Thị B T mức án từ 06 tháng đến 12 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”.

Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thị M mức án từ 06 tháng đến 12 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”.

- Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo có hoàn cảnh kinh tế thuộc diện khó khăn nên không đề nghị áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.

Nói lời nói sau cùng, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn truy tố và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:

Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Thoại Sơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Trong vụ án này; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng đều vắng mặt tại phiên tòa không rõ lý do, mặc dù Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sau khi vụ án xảy ra những người này đã có lời khai trong quá trình điều tra, khi cần thiết Hội đồng xét xử sẽ công bố lời khai của họ trước tòa. Căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Những chứng cứ xác định hành vi phạm tội của các bị cáo:

Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp lời khai của các bị cáo trong giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai những người tham gia tố tụng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Có đầy đủ căn cứ xác định: Đặng Thị B T, Nguyễn Thị M đã bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc, chưa được xóa tiền sự. Đến ngày 09/7/2022 Đặng Thị B T, Nguyễn Thị M tham gia đánh bạc bằng hình thức đánh bài tứ sắc (chơi kiểu xệp) được thua bằng tiền thì bị phát hiện, bắt quả tang thu giữ số tiền 540.000 đồng dùng để đánh bạc.

Căn cứ vào quy định của pháp luật, hành vi của các bị cáo Đặng Thị B T, Nguyễn Thị M đã phạm vào tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017;

Xét về tính chất vụ án thì thấy:

Mọi hình thức sát phạt nhau để ăn thua bằng tiền là vi phạm pháp luật, bởi nó là nguyên nhân làm phát sinh nhiều tệ nạn xã hội, ảnh hưởng xấu đến mọi mặt của đời sống, làm mất trật tự an toàn xã hội nên bị pháp luật nghiêm cấm. Các bị cáo đứng trước phiên tòa là những người đã trưởng thành, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, có khả năng nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì lười biếng lao động, ham mê cờ bạc, muốn có tiền tiêu xài mà không mất nhiều công sức nên vấn thân vào con đường phạm tội.

Các bị cáo Nguyễn Thị M, Đặng Thị B T là những người đã bị Ủy ban nhân dân xã V, huyện T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc. Lẽ ra sau khi bị xử phạt, phải biết ăn năn hối cải về hành vi của mình mà khắc phục, nhưng các bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc vào ngày 09/7/2022, đều này thể hiện các bị cáo xem thường pháp luật, nên cần phải xử phạt các bị cáo mức án tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội mà các bị cáo gây ra. Do tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo như nhau nên mức hình phạt dành cho các bị cáo như nhau.

Về tình tiết tăng nặng: Không

Về tình tiết giảm nhẹ:

Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ sau: Các bị cáo thuộc thành phần lao động nghèo, nhận thức pháp luật có phần hạn chế; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; từ giai đoạn điều tra đến tại phiên tòa đều thành khẩn khai nhận tội, tỏ rõ thái độ ăn năn hối cải.

Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, số tiền đánh bạc không lớn; trong thời gian tại ngoại, luôn chấp hành tốt chính sách pháp luật tại địa phương, các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo nên không cần thiết cách ly ra khỏi đời sống xã hội bằng biện pháp chấp hành hình phạt tù và việc cho các bị cáo cải tạo tại địa phương không nguy hiểm cho xã hội, không gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội và cũng đủ sức răn đe, cải tạo đối với các bị cáo.

Về Hình phạt bổ sung: Do các bị cáo có hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, là lao động nghèo, tham gia đánh bạc với số tiền không lớn nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo; đồng thời, không buộc các bị cáo khấu trừ thu nhập theo quy định.

Về xử lý vật chứng:

Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Thoại Sơn đã thu giữ các vật chứng sau:

- 03 bộ bày tứ sắc;

- 01 chiếc chiếu;

- Số tiền 540.000 đồng.

Các vật chứng này phân hóa xử lý như sau:

- Đối với 03 bộ bài tứ sắc, 01 chiếc chiếu là vật chứng liên quan đến vụ án nên tuyên bố tịch thu tiêu hủy.

- Đối với số tiền 540.000 đồng thu giữ tại chiếu bạc, liên quan trực tiếp đến vụ án nên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

Đối với Đặng Thị Mỹ P, Nguyễn Thị B, Nguyễn Thị H có hành vi tham gia đánh bạc là vi phạm pháp luật. Do những người này chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc hoặc tổ chức đánh bạc hoặc đã bị kết án về tội đánh bạc hoặc tội tổ chức đánh bạc nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã có văn bản đề nghị xử phạt vi phạm hành chính. Ngày 01/12/2022, Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Khánh đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Phượng, B, H mỗi người 1.500.000 đồng là có căn cứ.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, Mễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc các bị cáo mỗi người phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Đặng Thị B T, Nguyễn Thị M phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Đặng Thị B T 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Thời gian chấp hành hình phạt được tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã V, huyện T, tỉnh An Giang nhận được quyết định và bản sao bản án.

Giao bị cáo T cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện T, tỉnh An Giang giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo T có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã V, huyện T, tỉnh An Giang trong việc giám sát, giáo dục đối với bị cáo.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị M 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Thời gian chấp hành hình phạt được tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện C, tỉnh Cà Mau nhận được quyết định và bản sao bản án.

Giao bị cáo M cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện C, tỉnh Cà Mau giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo M có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện C, tỉnh Cà Mau trong việc giám sát, giáo dục đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015:

- Tuyên bố tịch thu tiêu hủy 03 bộ bài tứ sắc, 01 chiếc chiếu;

- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 540.000 đồng.

(Vật chứng hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn quản lý theo Quyết định chuyển vật chứng số 07/QĐ-VKSTS ngày 27/12/2022).

Căn cứ Điều 23; Điều 26; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, Mễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Đặng Thị B T và Nguyễn Thị M mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu xét xử phúc thẩm; riêng đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa, thời hạn kháng cáo là 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án tại trụ sở UBND xã, phường, thị trấn nơi đương sự cư trú để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ