vanban.org

Bản án 10/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc Tuyên án 15/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu, tiêu hủy mẫu vật hoàn trả còn lại sau giám định là A1 = 0,1136 gam cùng toàn bộ bao gói. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyen Van L - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁNNHÂN DÂN
HUYỆN TD
TỈNH VĨNH PHÚC
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2023/HS-ST
Ngày 15 -02- 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TD, TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Hạnh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Minh Giám

Bà Kiều Thị Thắng

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Lăng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Ông Phan Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 78/2022/TLST-HS ngày 21 tháng 12 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2023/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 02 năm 2023, đối với bị cáo:

Nguyễn Văn L, sinh ngày 26/6/1987; nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn V và bà Trần Thị D; vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Tại bản án số 34/2011/HSST ngày 14/7/2011, Tòa án nhân dân huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt Nguyễn Văn L 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm 02 tháng về tội “Đánh bạc”; chấp hành xong án phí ngày 23/9/2011.

Tại bản án số 05/2015/HSST ngày 10/02/2015, Tòa án nhân dân huyện TĐ, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt Nguyễn Văn L 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; chấp hành xong hình phạt tù ngày 08/01/2016; chấp hành xong án phí và tiền truy thu ngày 17/3/2015.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/9/2022 đến nay (có mặt).

- Người làm chứng: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1989 (vắng mặt).

Nơi cư trú: Thôn N, xã Đ, huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc

- Người chứng kiến: Ông Trần Minh Đ, sinh năm 1966 (vắng mặt).

Nơi cư trú: Thôn N, xã Đ, huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Nguyễn Văn L là đối tượng nghiện ma túy từ năm 2013 cho đến ngày bị bắt giữ. Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 27/9/2022, Nguyễn Văn L điều khiển xe mô tô biển kiểm soát: 98B1-823.58, loại xe Wave, nhãn hiệu HONDA từ nhà đến khu vực ngã ba cây xăng thuộc thôn N, xã L, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc để mua ma túy sử dụng cho bản thân. Tại đây, L gặp và mua 01 gói nhỏ ma túy với giá 200.000 đồng của một người đàn ông không biết tên, địa chỉ rồi điều khiển xe mô tô về nhà để sử dụng. Khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, L đến cửa quán tạp hóa của chị Nguyễn Thị T ở thôn N, xã Đ, huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc để mua nước thì bị Công an huyện TD kiểm tra. Khi bị Công an kiểm tra, L đã ném gói nhỏ ma túy xuống nền gạch cạnh vị trí L đang ngồi thì bị phát hiện và bắt quả tang. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện TD đã thu giữ trên nền gạch cạnh vị trí bắt giữ L 01 gói nhỏ, bên ngoài bọc bằng mảnh giấy lịch, mặt bên ngoài màu xanh, mặt bên trong màu trắng, bên trong chứa chất cục bột màu trắng, L khai là ma túy của L tàng trữ để sử dụng cho bản thân, được niêm phong ký hiệu A1. Ngoài ra, cơ quan điều tra còn thu giữ 01 xe mô tô biển kiểm soát: 98B1-823.58 của Nguyễn Văn L.

Tại Kết luận giám định số 2959 ngày 01/10/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự

- Công an tỉnh Vĩnh Phúc kết luận: “Chất bột, cục màu trắng của mẫu ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1979 gam loại Heroine. Hoàn trả lại sau giám định mẫu A1 = 0,1136 gam và toàn bộ bao gói”.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho Nguyễn Văn L, quá trình điều tra L khai nhận không biết tên, địa chỉ cụ thể, cơ quan điều tra không có cơ sở để xác minh nên không đề cập xử lý.

Tại Cáo trạng số: 01/CT-VKSTD ngày 19/12/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện TD truy tố bị cáo Nguyễn Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TD đề nghị giữ nguyên cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Văn L từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ ngày 27/9/2022.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập, tài sản nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu, tiêu hủy mẫu vật hoàn trả sau giám định của phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Phúc ký hiệu A1 = 0,1136 gam cùng toàn bộ bao gói.

Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện TD, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện TD, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự tố tụng của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người làm chứng không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn L đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung của bản Cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ khẳng định: Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 27/9/2022, tại quán nước của chị Nguyễn Thị T thuộc thôn N, xã Đ, huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc, Nguyễn Văn L có hành vi tàng trữ trái phép 0,1979 gam ma túy loại Heroine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân thì bị Công an huyện TD bắt quả tang cùng tang vật.

Hành vi tàng trữ trái phép 0,1979 gam ma túy loại Heroine của Nguyễn Văn L đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

…

c) Heroine…có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;”

Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an, an toàn xã hội. Bị cáo nhận thức được tàng trữ trái phép chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm nhưng bị cáo vẫn thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Do đó cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi của bị cáo để đảm bảo tính răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo là người có nhân thân xấu, năm 2011 bị Tòa án nhân dân huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”; năm 2015 bị Tòa án nhân dân huyện TĐ, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 01 năm tù về tội “trộm cắp tài sản”, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để rèn luyện, tu dưỡng bản thân mà còn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định: "Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng…", bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập, tài sản, vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo L, quá trình điều tra bị cáo khai nhận không biết tên, địa chỉ cụ thể, cơ quan điều tra không có cơ sở để xác minh nên không đề cập xử lý là phù hợp.

Về xử lý vật chứng:

Mẫu vật hoàn trả sau giám định của phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Phúc ký hiệu A1= 0,1136 gam cùng toàn bộ bao gói cần tịch thu tiêu hủy.

01 xe mô tô biển kiểm soát 98B1-823.58 thu giữ Nguyễn Văn L, L khai nhận đã mua của một người đàn ông không biết tên, địa chỉ tại thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc vào khoảng tháng 6/2022 với giá 9.000.000 đồng. Quá trình điều tra, xác minh làm rõ chiếc xe mô tô trên là vật chứng trong vụ “Trộm cắp tài sản” xảy ra ngày 08/02/2022 tại Bưu điện xã H, huyện TĐ, tỉnh Vĩnh Phúc nên cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện TD đã chuyển chiếc xe mô tô trên đến Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện TĐ để giải quyết theo thẩm quyền, nên Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn L phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ ngày 27/9/2022.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu, tiêu hủy mẫu vật hoàn trả còn lại sau giám định là A1 = 0,1136 gam cùng toàn bộ bao gói.

(Vật chứng có đặc điểm như Biên bản giao nhận vật chứng tài sản ngày 21/12/2022 giữa Công an huyện TD và Chi cục Thi hành án dân sự huyện TD).

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Văn L phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ