- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lu Văn Đ - Bi truy tố, xét xử về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ s…"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Lu Văn Đ 01 (Một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 29/11/2022.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 10/2023/HS-ST Ngày: 21 – 02 – 2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU - TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – chủ toạ phiên toà: Ông Hà Văn Đông.
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Hà Văn Hải.
2/ Ông Vi Anh Tú.
- Thư ký phiên toà: Bà Vi Hải Yến – Thư ký Toà án nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Lâm – Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 02 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 08/2023/TLST – HS ngày 17 tháng 01 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2023/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lu Văn Đ, tên gọi khác: Không.
Sinh năm: 1999 tại huyện QC, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Bản K, xã CH, huyện QC, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lu Văn L và bà: Lữ Thị H; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Không; Bị bắt, tạm giam từ ngày 29/11/2022 đến nay. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 15 phút ngày 29/11/2022 tổ công tác Công an huyện Quỳ Châu nhận được tin báo của quần chúng nhân dân về hoạt động phạm tội ma túy tại nhà của Lu Văn Đ nên đã tiến hành kiểm tra, thời điểm kiểm tra Đ đang ngủ trong nhà, nhìn thấy lực lượng Công an Đ đã phá kính cửa sổ lao ra ngoài bỏ chạy nhưng bị tổ công tác kịp thời khống chế, tiến hành kiểm tra phát hiện 03 gói chất bột nén màu trắng nghi là ma túy cất dấu dưới đệm trải trong nhà.
Qua đấu tranh khai thác Lu Văn Đ khai nhận, vào ngày 28/11/2022 Đ đang ở nhà mẹ đẻ của mình tại bản VH, xã CH, huyện QC thì có một người đàn ông không rõ địa chỉ mà Đ quen biết khi đi làm gỗ có tên thường gọi là “T” đến nhà chơi. Quá trình nói chuyện, trao đổi biết người tên “T” có ma túy, do là người nghiện chất ma túy nên Đ hỏi mua và được người đàn ông đồng ý bán 03 gói với tổng số tiền là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Sau đó người đàn ông tên “T” rời đi, 03 gói ma túy mua được Đ cất giấu dưới tấm đệm trải trong nhà với mục đích để sử dụng dần.
Tại biên bản mở niêm phong vật chứng xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại, lập ngày 29/11/2022 của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An, xác định: 03 (ba) gói bọc bằng mảnh giấy có chữ viết, bên trong mỗi gói đều có chứa chất rắn màu trắng (nghi là ma túy, có khối lượng lần lượt là 0,09g, 0,12g và 0,09g). Sau khi loại bỏ bao bì, số chất rắn màu trắng cả 03 (ba) gói có tổng khối lượng là 0,3g (không phẩy ba gam), cán bộ kỹ thuật hình sự trích lấy 0,12g (không phẩy mười hai gam) chất rắn màu trắng nói trên đưa đi giám định tính chất ma túy, số chất rắn màu trắng còn lại là 0,18g (không phẩy mười tám gam).
Kết luận giám định số: 1356/KL-KTHS(Đ2-MT), ngày 05/12/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: “03 (ba) mẫu chất rắn màu trắng (ký hiệu M1, M2 và M3) thu giữ của Lu Văn Đ gửi tới giám định đều là ma túy (Heroine). Số chất rắn màu trắng (03 gói) thu giữ của Lu Văn Đ có tổng khối lượng là 0,3g (Không phẩy ba gam).”
Bản cáo trạng số: 11/CT-VKS-QC ngày 16/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An, truy tố bị cáo Lu Văn Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lu Văn Đ từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù.
Buộc bị cáo Lu Văn Đ phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật, đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 0,18g (không phẩy mười tám gam) ma túy Heroin còn lại cùng toàn bộ vỏ, bao gói được niêm phong trong 01 phong bì thư.
Tại phần tranh luận bị cáo không có ý kiến tranh luận gì. Lời nói sau cùng tại phiên tòa bị cáo nhận tội và xin xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Quỳ Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Những chứng cứ xác định có tội: Căn cứ những tài liệu, chứng cứ cơ quan điều tra Công an thu thập có tại hồ sơ vụ án như Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; Biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại; Kết luận giám định; Bản tự khai, biên bản hỏi cung, lấy lời khai của bị cáo và người liên quan, phù hợp với lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa, cũng như những tài liệu, chứng cứ khách quan khác thu thập có trong hồ sơ, đủ căn cứ xác định:
Nhận được tin báo của quần chúng nhân dân về hoạt động tội phạm, vào khoảng 13 giờ 00 phút, ngày 29/11/2022 tại nhà mẹ đẻ của Lu Văn Đ ở bản VH, xã CH, huyện QC, tỉnh Nghệ An. lực lượng Công an chuyện QC tiến hành kiểm tra hành chính, thu giữ 03 gói giấy có chứa chất ma túy (Heroine) có tổng khối lượng 0,3 gam dưới đệm trong nhà của Lu Văn Đ với mục đích để sử dụng. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và mức hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, theo như truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu là có căn cứ, đúng pháp luật, đúng người và đúng tội.
Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất gây nghiện, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, an ninh xã hội tại địa phương, bởi ma túy là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội khác. Bản thân bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, trách nhiệm hình sự và nhận thức được tác hại của chất ma túy, nhưng vẫn cố ý phạm tội, nên cần lên cho bị cáo mức án nghiêm nhằm cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, để bị cáo có thời gian sửa chữa lỗi lầm để cải tạo, giáo dục trở thành người công dân tốt, sống có ích cho xã hội và răn đe giáo dục phòng ngừa chung.
Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đó là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự, bị cáo có thể bị áp dụng thêm hình phạt bổ sung. Tuy nhiên theo tài liệu, chứng cứ thu thập có trong hồ sơ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy, gia đình bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn thuộc cận hộ nghèo, bị cáo là lao động tự do, hiện đang bị tạm giam, không có tài sản riêng để đảm bảo cho việc thi hành án, nên Hội đồng xét xử không áp dụng thêm hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Quá trình điều tra, cơ quan điều tra Công an không xác định được nhân thân, lai lịch của người đàn ông tên “T” đã bán ma túy cho bị cáo nên không có cơ sở để điều tra, xử lý.
Về vật chứng: Số ma túy (Heroine) 0,18 gam (không phẩy không tám gam) còn lại sau khi đã đưa đi giám định là chất thuộc danh mục Nhà nước cấm tàng trữ, sử dụng và lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy. Đối với các mảnh giấy có chữ viết cùng toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong là những vật không có giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Tại phiên tòa bị cáo không có đơn xin miễn tiền án phí, nên buộc bị cáo phải chịu tiền án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015.
Xử phạt bị cáo Lu Văn Đ 01 (Một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 29/11/2022.
2. Về vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 0,18g (Không phẩy mười tám gam) heroine, các mảnh giấy có chữ viết cùng vỏ bao, gói niêm phong cũ được bỏ vào một phong bì thư dán kín được niêm phong theo đúng quy định.
(Vật chứng có đặc điểm chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng, lập ngày 17/01/2023 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An).
3. Án phí: Căn cứ vào Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Lu Văn Đ chịu án phí Hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nghệ An; - Sở tư pháp tỉnh Nghệ An; - VKSND tỉnh Nghệ An; - VKSND huyện Quỳ Châu; - Cơ quan điều tra CA huyện Quỳ Châu; - THADS huyện Quỳ Châu; - Trại tạm giam Công an tỉnh Nghệ An; - UBND xã Châu Hội, huyện Quỳ Châu, NA; - Bị cáo; - lưu HS, VP; | TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Hà Văn Đông |