vanban.org

Bản án 10/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn Tuyên án 14/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Tuyên bố các bị cáo Lục Văn P và La Đại H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

[2]. Áp dụng Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Lục Văn P 12 (Mười hai) tháng tù. Bị cáo được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 13/01/2023 đến 18/01/2023 vào thời hạn chấp hành hình phạt tù. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lục Văn P - La Đại H "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
  • Tòa quyết gì? [1]. Tuyên bố các bị cáo Lục Văn P và La Đại H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 17 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PÁC NẶM
TỈNH BẮC KẠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2023/HS - ST
Ngày 14/6/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PÁC NẶM, TỈNH BẮC KẠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Thanh Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ma Văn Nhạc

Ông Hoàng Văn Tuân

- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thị Hải Yến - Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Ông Cà Ngọc Tân và ông Vi Văn Luận - Kiểm sát viên.

Trong ngày 14 tháng 6 năm 2023, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự sơ thẩm thụ lý số: 07/2023/TLST-HS, ngày 04 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2023/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 6 năm 2023 đối với các bị cáo:

1. Lục Văn P, sinh ngày xx tháng xx năm 19xx tại huyện P, tỉnh B.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn P, xã Ng, huyện P, tỉnh B.

Nghề ngH: Lao động tự do; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch Việt Nam; con ông Lục Tùng L (đã chết) và bà Nông Thị H; vợ, con: Chưa có

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/01/2023 đến 18/01/2023 thì được thay thế bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. La Đại H, sinh ngày xx tháng xx năm 19xx tại huyện P, tỉnh B.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn P, xã Ng, huyện P, tỉnh B.

Nghề ngH: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch Việt Nam; con ông La Văn B và bà Hà Thị L (đã chết); vợ, con: Chưa có.

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/01/2023 đến 18/01/2023 thì được thay thế bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Lường Văn S, sinh năm 19xx - Trú tại: Thôn B, xã Ng, huyện P, tỉnh B. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ ngày 13/01/2023, La Đại H, sinh năm 19xx trú tại thôn P, xã Ng, huyện P điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 19Z1-59xx đi đến khu vực gần nhà Lục Văn P, sinh năm 19xx trú cùng thôn thì gặp P, khi gặp nhau H và P cùng bàn bạc góp tiền đi mua ma túy loại heroine, mục đích mua để sử dụng. Sau khi bàn bạc La Đại H điều khiển xe mô tô chở Lục Văn P ngồi đằng sau đi đến khu vực ngã tư có đèn tín hiệu giao thông gần Trung tâm y tế huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn thì H đưa cho P 100.000 đồng, P góp thêm 100.000 đồng được tổng cộng 200.000 đồng. Khi đi đến khu vực gần cổng Trung tâm Y tế huyện Ba Bể thì P xuống xe tự đi bộ tìm mua ma túy, H điều khiển xe đi mua xăng, P một mình đi tìm mua ma túy thì gặp một người đàn ông tự giới thiệu tên là Quyết (không rõ tên thật hay giả, không rõ nhân thân, lai lịch) và dùng số tiền đã góp chung với H được 200.000 đồng mua được 01 (một) gói ma túy heroine, P cầm gói ma túy trong tay quan sát thấy được gói bằng loại giấy trắng có dòng kẻ. Khi H quay lại thì P đã mua được ma túy và đang đứng đợi tại cổng Trung tâm Y tế huyện Ba Bể, H điều khiển xe mô tô chở P đi theo đường quốc lộ 279 theo hướng đi xã Bành Trạch, huyện Ba Bể, trên đường đi P nói tìm chỗ vắng người để sử dụng ma túy nhưng không thấy H nói gì, khi đi đến đỉnh dốc gần đường rẽ đi xã Bành Trạch, huyện Ba Bể thì H dừng xe, P xuống xe và đưa gói ma túy vừa mua được cho H, H cầm lấy gói ma túy, sau đó P và H cùng đi vào bụi cỏ ven đường, tại đây H chia số ma túy thành 02 phần, lúc chia H xé một góc nhỏ tờ giấy gói của gói ma túy để đựng nhưng do nhỏ quá nên đã vứt đi, P nhặt một mảnh giấy trắng trên mặt đất ngay gần đấy để đựng ma túy. Sau khi chia, H lấy phần ma túy được gói bằng giấy trắng có dòng kẻ, rồi sử dụng kim tiêm tự mang theo và lấy nước trong vũng nước gần đó để sử dụng ma túy, P lấy phần ma túy được gói bằng mảnh giấy trắng mà P nhặt gần đấy, rồi dùng kim tiêm và nước cất tự mang theo để sử dụng ma túy bằng hình thức tiêm trực tiếp vào cơ thể. Số ma túy chưa sử dụng hết P gói lại cất vào túi quần bên trái đằng trước, số ma túy H sử dụng còn thừa H tự gói lại và cất vào sau nắp lưng chiếc điện thoại NOKIA của mình. Sau khi sử dụng ma túy xong, H điều khiển xe mô tô chở P đi về đến thôn Khuổi Muổng, xã Nghiên Loan, huyện Pác Nặm thì bị bắt quả tang thu giữ cùng tang vật.

Tại Biên bản bắt người phạm tội quả tang hồi 14 giờ 50 Pt ngày 13/01/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Pác Nặm: Hồi 14 giờ 50 Pt ngày 13/01/2023, tại ven đường tỉnh lộ 258B, thôn Khuổi Muổng, xã Nghiên Loan, huyện Pác Nặm, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Pác Nặm phát hiện, bắt quả tang Lục Văn P và La Đại H có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ tại túi quần bên trái của Lục Văn P 01 gói nhỏ được gói bằng loại giấy trắng bên trong chứa chất bột màu trắng nghi là ma túy, Cơ quan điều tra đã niêm phong vào phong bì ký hiệu P. Thu giữ tại bên trong nắp lưng điện thoại di động Nokia màu đen của La Đại H 01 gói nhỏ được gói bằng loại giấy trắng có dòng kẻ bên trong chứa chất bột màu trắng nghi là ma túy, Cơ quan điều tra đã niêm phong vào phong bì ký hiệu H.

Tại biên bản cân xác định khối lượng chất nghi ma túy hồi 19 giờ 00 phút ngày 13/01/2023 xác định: Chất màu trắng nghi là ma túy trong phong bì ký hiệu P có khối lượng là 0,1g (không phẩy một gam), sau khi cân khối lượng, toàn bộ chất màu trắng nghi là ma túy được niêm phong vào phong bì ký hiệu C1 để gửi giám định; Chất màu trắng nghi là ma túy trong phong bì ký hiệu H có khối lượng là 0,07g (không phẩy không bảy gam). Sau khi cân khối lượng, toàn bộ chất màu trắng nghi là ma túy được niêm phong vào phong bì ký hiệu C2 để gửi giám định.

Tại kết luận giám định số 39 ngày 17/01/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn, kết luận: mẫu chất bột màu trắng bên trong phong bì ký hiệu C1 gửi giám định là ma tuý, loại heroine, khối lượng 0,1g (không phẩy một gam); mẫu chất bột trong phong bì ký hiệu C2 gửi giám định là ma túy, loại heroine, khối lượng 0,07g (không phẩy không bảy gam).

Bị cáo Lục Văn P và La Đại H khai nhận: Các bị cáo đều là người nghiện chất ma túy, trước ngày 13/01/2023 P và H đã từng cùng nhau góp tiền mua ma túy về sử dụng. Khoảng 10 giờ ngày 13/01/2023, khi gặp nhau các bị cáo bàn bạc góp mỗi người 100.000 đồng đi mua ma túy loại heroine để sử dụng. Sau khi góp tiền, P là người trực tiếp đi tìm và mua được 01 gói ma túy heroine tại khu vực gần Trung tâm Y tế huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn. Tại khu vực đỉnh dốc đường quốc lộ 279, đoạn gần đường rẽ đi xã Bành Trạch, huyện Ba Bể, P đưa gói ma túy vừa mua được cho H để chia thành hai phần, H lấy phần ma túy được gói bằng giấy gói cũ loại giấy trắng có dòng kẻ, P lấy phần ma túy được gói bằng mảnh giấy trắng mà P nhặt được. P và H tự sử dụng ma túy bằng hình thức tiêm chích. Số ma túy chưa sử dụng hết các bị cáo tự cất giấu trên người để sử dụng tiếp, khi H và P đi về đến thôn Khuổi Muổng, xã Nghiên Loan, huyện Pác Nặm thì bị bắt quả tang thu giữ cùng tang vật. Các bị cáo đều khai nhận số ma túy bị Cơ quan điều tra thu giữ chính là số ma túy được H chia ra từ gói ma túy mà các bị cáo đã góp tiền mua chung sau khi chia nhau sử dụng còn thừa lại.

Tại bản cáo trạng số 07/CT-VKSPN ngày 28/4/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Pác Nặm truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Pác Nặm để xét xử bị cáo Lục Văn P và La Đại H về "Tội tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Pác Nặm giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lục Văn P và La Đại H phạm tội "Tội tàng trữ trái phép chất ma túy".

Áp dụng Điều 17, 38, 58, điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Lục Văn P từ 12 đến 15 tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo vì bị cáo thuộc hộ nghèo, bị cáo có đơn xin miễn án phí do vậy đề nghị miễn án phí cho bị cáo và xử lý vật chứng theo quy định.

Áp dụng Điều 17, 38, 58, điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo La Đại H từ 12 đến 15 tháng tù không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo vì bị cáo thuộc hộ nghèo, bị cáo có đơn xin miễn án phí do vậy đề nghị miễn án phí cho bị cáo và xử lý vật chứng theo quy định.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án và căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Pác Nặm, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Pác Nặm, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Như vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có cơ sở kết luận:

Hồi 14 giờ 50 Pt ngày 13/01/2023, tại ven đường tỉnh lộ 258B, thôn Khuổi Muổng, xã Nghiên Loan, huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn, Lục Văn P và La Đại H đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,17g chất ma túy loại heroine, với mục đích để sử dụng thì bị tổ công tác Công an huyện Pác Nặm bắt quả tang, thu giữ cùng tang vật.

Hành vi của bị cáo Lục Văn P và La Đại H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

…

c) Heroine…có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.

…

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Ma túy là chất gây nghiện, hủy hoại sức khỏe con người và là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác và ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý, kiểm soát của Nhà nước đối với chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Khi thực hiện hành vi bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự , mặc dù nhận thức rõ hành vi của mình bị pháp luật cấm nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện việc phạm tội.

.Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Bị cáo Lục Văn P và La Đại H không có tiền án, không có tiền sự, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo nên bị cáo P và H được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Bị cáo P và H không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.

Đánh giá vai trò của các bị cáo thấy, các bị cáo không bàn bạc từ trước về việc đi mua chất ma túy để sử dụng, hai bị cáo không có sự phân công trong việc thực hiện hành vi, do vậy xác định đây chỉ là đồng phạm giản đơn, các bị cáo đều phải chịu hình phạt tương xứng.

Căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân các bị cáo, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của các bị cáo, các quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử xét thấy, cần phải áp dụng hình phạt tù, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật và đảm bảo tính giáo dục, phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, kết quả điều tra, xác minh cho thấy gia đình các bị cáo thuộc hộ nghèo. Do đó không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với các bị cáo là phù hợp.

. Về vật chứng của vụ án:

Vật chứng của vụ án gồm:

- 01 xe mô tô biển kiểm soát 19Z1-59xx, nhãn hiệu PARISA đã qua sử dụng, là tài sản của ông Lường Văn S, sinh năm 19xx, trú tại Thôn B, xã Ng, huyện P, tỉnh B. Bị cáo La Đại H sử dụng chiếc xe đi mua ma túy ông S không biết. Do vậy cần trả lại chiếc xe cho ông Lường Văn S.

- 01 điện thoại di động loại bàn phím bấm (bàn phím vật lý) màu đen, mặt sau có dòng chữ NOKIA, đã qua sử dụng, gắn 01 thẻ sim nhà mạng Viettel có sáu số seri cuối là 665xxx là tài sản của La Đại H, bị cáo H không sử dụng chiếc điện thoại vào việc mua bán, tàng trữ chất ma túy, do vậy cần trả lại chiếc điện thoại cho bị cáo H.

- 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng, mặt sau màu xanh có dòng chữ VIVO đã qua sử dụng, gắn 01 thẻ sim nhà mạng Viettel có 6 số seri cuối 328xxx, 06 số cuối EMEL1 là 758xxx, 06 số cuối EMEL2 là 758xxx, là tài sản của Lục Văn P, bị cáo P không sử dụng chiếc điện thoại vào việc mua bán, tàng trữ chất ma túy, do vậy cần trả lại chiếc điện thoại cho bị cáo P.

- Số tiền 100.000 đồng là tài sản của bị cáo Lục Văn P, không liên quan đến hành vi phạm tội, do vậy cần trả lại cho bị cáo P.

- Số tiền 290.000 đồng là tài sản của bị cáo La Đại H. không liên quan đến hành vi phạm tội, do vậy cần trả lại cho bị cáo H.

- 01 phong bì niêm phong ký hiệu C3 bên trong chứa toàn bộ giấy gói cùng vỏ phong bì niêm phong ban đầu ký hiệu P, H không có giá trị xử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.

- 01 phong bì niêm phong ký hiệu T28 chứa mẫu ma túy hoàn trả sau giám định, cần tịch thu tiêu hủy.

. Đánh giá về quan điểm truy tố, đề nghị của Viện kiểm sát: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn tại phiên tòa giữ nguyên Quyết định truy tố như nội dung bản Cáo trạng, quan điểm truy tố của Viện kiểm sát là có căn cứ. Mức hình phạt của Viện kiểm sát đề nghị tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà các bị cáo đã gây ra.

Xem xét, đánh giá hành vi của những người liên quan.

Đối với ông Lường Văn S là chủ sở hữu chiếc xe mô tô biển kiểm soát 19Z1-59xx, ngày 13/01/2023 ông S cho La Đại H mượn xe mô tô, tuy nhiên ông S không biết H sử dụng chiếc xe để thực hiện hành vi phạm tội nên không đề cập xử lý.

Đối với người bán ma túy cho bị can Lục Văn P, tự xưng tên Q, quá trình điều tra không xác định được họ tên, địa chỉ cụ thể, do vậy không có căn cứ để xử lý.

Về án phí: Các bị cáo thuộc hộ nghèo của xã Nghiên Loan, huyện Pác Nặm và các bị cáo có đơn xin Hội đồng xét xử miễn án phí. Do vậy cần miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Tuyên bố các bị cáo Lục Văn P và La Đại H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

[2]. Áp dụng Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Lục Văn P 12 (Mười hai) tháng tù. Bị cáo được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 13/01/2023 đến 18/01/2023 vào thời hạn chấp hành hình phạt tù.

Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

Xử phạt bị cáo La Đại H 12 (Mười hai) tháng tù. Bị cáo được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 13/01/2023 đến 18/01/2023 vào thời hạn chấp hành hình phạt tù.

Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

[4]. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

Tịch thu tiêu hủy các vật chứng gồm:

- 01 phong bì niêm phong ký hiệu C3 bên trong chứa toàn bộ giấy gói cùng vỏ phong bì niêm phong ban đầu ký hiệu P, H.

- 01 phong bì niêm phong ký hiệu T28 chứa mẫu ma túy hoàn trả sau giám định.

Trả lại các vật chứng gồm:

- Trả 01 xe mô tô biển kiểm soát 19Z1-59xx, nhãn hiệu PARISA đã qua sử dụng cho ông Lường Văn S, sinh năm 19xx, trú tại Thôn B, xã Ng, huyện P, tỉnh B.

- Trả 01 điện thoại di động loại bàn phím bấm (bàn phím vật lý) màu đen, mặt sau có dòng chữ NOKIA, đã qua sử dụng, gắn 01 thẻ sim nhà mạng Viettel có sáu số seri cuối là 665227 cho bị cáo La Đại H

- Trả 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng, mặt sau màu xanh có dòng chữ VIVO đã qua sử dụng, gắn 01 thẻ sim nhà mạng Viettel có 6 số seri cuối 328xxx, 06 số cuối EMEL1 là 758xxx, 06 số cuối EMEL2 là 758xxx cho bị cáo Lục Văn P.

- Trả số tiền 100.000 đồng cho bị cáo Lục Văn P.

- Trả số tiền 290.000 đồng cho bị cáo La Đại H.

(Số lượng, tình trạng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/5/2023 giữa Cơ quan điều tra Công an huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn và Chi cục thi hành án dân sự huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn).

[5]. Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lục Văn P và bị cáo La Đại H.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự

[6]. Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Nơi nhân:

Cỡ chữ