- Tranh chấp gì? án hình sự — "BA Dương Minh Trung - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 201…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Dương Minh Tr phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ ”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NG TỈNH K | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 10 /2023/HS -ST Ngày 19- 4-2023. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NG, TỈNH K
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Oanh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Huyện; Ông Nguyễn Văn Thủy.
-Thƣ ký phiên tòa: Ông Ngô Đình Tú – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ng, tỉnh K.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ng, tỉnh K tham gia phiên tòa: Ông Đàm Công Tư – Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 4 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ng, tỉnh K xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 11/2023/TLST – HS ngày 07-3- 2023, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09 /2023/QĐXXST- HS ngày 05
- 4- 2023 đối với bị cáo:
Dƣơng Minh Tr; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1973 tại tỉnh B. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở: Thôn Đ xã Phước L, huyện Tuy Ph, tỉnh B; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Dương Minh T (đã chết) và bà Võ Thị Th; vợ: Nguyễn Thị Tuyết Nh (đã ly hôn), có 03 con, lớn nhất sinh năm 1991, nhỏ nhất sinh năm 1996; Anh chị em ruột có bảy người, bị cáo là con thứ 6 trong gia đình; Tiền sự: Không; Tiền án: Không. Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu: Ngày 13/10/2016, bị Tòa án nhân dân huyện Chư P, tỉnh G xử phạt 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Ngày 14/10/2022, Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ. Đến ngày 14/12/2022, bị cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Ng ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Đại diện theo pháp luật của bị hại Nguyễn Quang M (đã chết, sinh năm: 1986; Địa chỉ: Tổ dân phố 2, thị trấn P, huyện Ng): Bà Nguyễn Thị L, ông Nguyễn Quang Kh; Địa chỉ: Thôn 5 T, huyện Đ, huyện Đ; Chị Nguyễn Thị D; địa chỉ: Tổ dân phố 2 thị trấn P, huyện Ng tỉnh K.( Có mặt)
Ngƣời có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
+ Anh Nguyễn Ngọc T; Địa chỉ: Số 509 đường Hùng Vương, Tổ 5 Phường Qu, thành phố K, tỉnh K.(Có mặt)
+ Chị Nguyễn Thị H; địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh K. Hiện nay đã đi khỏi địa phương (Vắng mặt).
Ngƣời làm chứng:
+ Chị Trần Thị Thanh H; Địa chỉ: Tổ dân phố 2 thị trấn P, huyện Ng tỉnh K. Vắng mặt
+ Anh Trần Quốc V; Địa chỉ: Số 08 Nguyễn Văn B, phường Trần Hưng Đ, thành phố Q, tỉnh B. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Dương Minh Tr hành nghề lái xe ô tô khách cho nhà xe Đức Th BKS: 82F-000.46, nhãn hiệu FORD, chuyên chở hành khách và hàng hóa theo tuyến huyện Ng, tỉnh K đi thành phố Q, tỉnh B và ngược lại.
Dương Minh Tr là lái xe ô tô khách Đức Th, như thường lệ, vào khoảng 13 giờ 00 phút ngày 14/10/2022, Dương Minh Tr điều khiển xe ô tô 82F-000.46 chở theo phụ xe là ông Trần Quốc V và hành khách xuất phát từ bến xe khách huyện Ng đi thành phố Q, tỉnh B. Đến khoảng 13 giờ 15 phút cùng ngày, Dương Minh Tr đang điều khiển xe đến Km 1494+250 đường Hồ Chí Minh, thuộc địa giới hành chính thôn 5, thị trấn P, huyện Ng với tốc độ cao từ 71Km/h đến 85Km/h ở khu vực giữa lòng đường trong điều kiện thời tiết đang mưa. Khi đi đến đoạn đường dốc, có biển cảnh báo “chỗ ngoặt nguy hiểm” thì Tr phát hiện thấy phía trước cách đầu xe ô tô 82F-000.46 khoảng 100m có một xe mô tô BKS: 82V1-2039 do anh Nguyễn Quang M điều khiển lưu thông ngược chiều sát lề đường bên phải với tốc độ chậm (khoảng 05-10km/h). Do chủ quan, Dương Minh Tr không giảm tốc độ xe, thì bất ngờ xe bị mất lái và lao thẳng sang phần đường bên trái, đầu xe ô tô tông thẳng vào cột biển cảnh báo nguy hiểm đặt bên lề đường và bị lật ngã, đổ ngang về phía bên phải làm xe bị trượt (bánh sau bên phải nằm trên khu đất trống, bánh trước bên phải nằm trên lòng đường và rớt xuống mương thoát nước) khoảng 15m thì lật ngược lại trạng thái bình thường của xe. Khi xe 82F-000.46 lật ngược lại thì bánh trước bên trái đập trúng vào đầu xe mô tô 82V1-2039 đang dừng sát lề đường làm xe và người ngã xuống đường. Lúc đó, bánh xe phía trước bên trái xe ô tô 82F-000.46 đè lên phần ngực của anh Nguyễn Quang M nằm dưới mương thoát nước. Hậu quả: Nguyễn Quang M chết tại chỗ, xe ô tô và mô tô bị hư hỏng. Sau khi vụ tai nạn xảy ra, Dương Minh Tr đã giữ nguyên hiện trường và đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ng trình báo sự việc.
Kết quả khám nghiệm tử thi Nguyễn Quang M hồi 16 giờ 00 ngày 14/10/2022 và tại bản kết luận giám định pháp y số: 108/TT-TTPY, ngày 18/10/2022, của Trung tâm Pháp y Sở Y tế tỉnh K, xác định nguyên nhân chết của tử thi Nguyễn Quang M là do đa chấn thương.
Tại bản cáo trạng số: 06/CT- VKS- NH ngày 06 tháng 3 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ng đã truy tố Dương Minh Tr về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên cáo trạng đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Không áp dụng tình tiết tăng nặng đối với bị cáo, cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ „thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, “ bồi thường thiệt hại” bổ sung thêm tình tiết giảm nhẹ “ người đại diện cho bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo”, theo quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017. Đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo từ 15 (mười lăm ) tháng tù đến 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. buộc bị cáo nộp án phí; xử lý vật chứng, áp dụng khoản 5 Điều 260 Bộ luật hình sự đề nghị HĐXX cấm hành nghề 12 tháng kể từ khi thi hành xong án phạt tù.
- Tại phiên tòa bị cáo Dương Minh Tr thừa nhận hành vi phạm tội đúng như cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố, và nhất trí với kết quả khám nghiệm tử thi Nguyễn Quang M và bản kết luận giám định pháp y số 108/TT-TTPY, ngày 18/10/2022, của Trung tâm Pháp y Sở Y tế tỉnh K.
Lời trình bày của những người đại diện theo pháp luật của bị hại Nguyễn Quang M: Bà Nguyễn Thị L, ông Nguyễn Quang Kh, chị Nguyễn Thị D tại hồ sơ vụ án và tại phiên tòa như sau: Về nội dung vụ án đúng như bản cáo trạng đã miêu tả, về khoản bồi thường thiệt hại thì chúng tôi nhất trí với khoản tiền bồi thường là 200.000.000đ (hai trăm triệu đồng) như đã thỏa thuận với bị cáo và chủ xe vào ngày 29/3/2023 trước khi mở phiên tòa. Nếu đến hẹn mà không bồi thường thì yêu cầu Tòa án áp dụng mức lãi suất theo quy định của pháp luật.
- Lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Ngọc Th tại hồ sơ vụ án: Anh Nguyễn Ngọc Th trình bày đúng như bản cáo trạng đã miêu tả.
- Lời khai của những người làm chứng anh Trần Quốc V và chị Trần Thị Thanh H trình bày đúng như bản cáo trạng đã miêu tả.
- Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo rất ăn năn hối cải về hành vi phạm tội đã gây ra, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án. Căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Ng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định của pháp luật.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo Dương Minh Tr thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và lời khai của những người tham gia tố tụng khác, Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 14/10/2022, Dương Minh Tr điều khiển xe ô tô BKS 82F-000.46 xuất phát từ bến xe khách huyện Ng đi thành phố Q, tỉnh B. Đến khoảng 13 giờ 15 phút cùng ngày, khi đang điểu khiển xe đến Km1494+250 đường Hồ Chí Minh, thuộc địa giới hành chính Thôn 5, thị trấn P, huyện Ng với tốc độ cao từ 71 đến 85 km/h ở khu vực giữa lòng đường trong điều kiện thời tiết đang mưa, khi đến đoạn đường cong cua, dốc, có biển cảnh báo “chỗ ngoặt nguy hiểm”. Do chủ quan, bị cáo không giảm tốc độ xe lại thì bất ngờ xe bị mất lái và lao thẳng sang phần đường bên trái va chạm với xe mô tô BKS: 82V1-2039 do anh Nguyễn Quang M điều khiển lưu thông ngược chiều sát lề đường bên phải. Hậu quả, Nguyễn Quang M chết tại chỗ, xe ô tô và mô tô bị hư hỏng nặng. Kết luận giám định pháp y số: 108/TT-TTPY, ngày 18/10/2022, của trung tâm Pháp y sở Y tế tỉnh K, xác định nguyên nhân chết của tử thi Nguyễn Quang M là do đa chấn thương.
Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi của bị cáo thể hiện lỗi vô ý, trực tiếp xâm phạm về tính mạng của công dân. Bị cáo Dương Minh Tr điều khiển xe ô tô BKS 82F-000.46 trong điều kiện thời tiết mưa, đoạn đường cong cua, dốc và có biển cảnh báo “chỗ ngoặt nguy hiểm” với tốc độ cao từ 71 đến 85 km/h, đi không đúng làn đường, không đảm bảo an toàn đã vi phạm vào khoản 11, Điều 8, khoản 1, 3, 11 Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT, ngày 29/8/2019 của Bộ giao thông vận tải quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ, hậu quả làm anh Nguyễn Quang M chết, như vậy lỗi hoàn toàn do bị cáo. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội ở mức độ nghiêm trọng, đủ yếu tố cấu thành tội phạm được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, có mức hình phạt tiền từ 30.000.000đ đến 100.000.000đ, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. Chính vì vậy bị cáo bị viện kiểm sát nhân dân huyện Ng, tỉnh K truy tố về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội.
Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Về tình tiết giảm nhẹ: Trong suốt quá trình tham gia tố tụng từ điều tra – truy tố – xét xử, bị cáo thể hiện „thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”,bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại nên được hưởng tình tiết “ bồi thường thiệt hại”, sau khi tai nạn xảy ra bị cáo đến cơ quan công an trình báo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ “ đầu thú”, tại phiên tòa bà Nguyễn Thị L, ông Nguyễn Quang Kh xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, theo quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đồi, bổ sung năm 2017.
Về áp dụng hình phạt: Căn cứ vào động cơ, mục đích, hành vi nguy hiểm cho xã hội của bị cáo, mức độ phạm tội. Xét thấy bị cáo có nhân thân xấu, tuy không bị áp dụng tình tiết tăng nặng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 bộ luật hình sự, nhưng bị cáo đã từng bị kết án về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” và hậu quả làm chết người đã được xóa án tích, nhưng bị cáo không lấy đó là bài học cho mình mà tiếp tục phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” hậu quả lại gây chết người. Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 38 Bộ luật hình sự để quyết định hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng đề nghị áp dụng điều luật của viện kiểm sát đối với bị cáo là chính xác, riêng mức hình phạt Hội đồng xét xử xem xét để quyết định hình phạt tương xứng với hành vi và mức độ phạm tội của bị cáo, vì vậy áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260 , điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo là có cơ sở. Cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm giáo dục răn đe đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đối với xe mô tô biển kiểm soát: 82V1-2039, số khung 431XAY 087593, số máy 43E131832, bị hại Nguyễn Quang M điều khiển xảy ra tai nạn, chiếc xe mô tô trên do vợ chồng anh M, chị Nguyễn Thị D mua lại của người khác cách đây nhiều năm (chị D không nhớ được thời gian cụ thể và nhân thân của người đã bán xe cho mình) để sử dụng. Quá trình điều tra xác định, chiếc xe mô tô trên do chị Nguyễn Thị H (trú tại thôn 9, xã Ng, nay là thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh K) là người đứng tên trên giấy đăng ký xe. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng chưa xác định được hiện chị H đang ở đâu. Cơ quan điều tra đã ra thông báo truy tìm chủ sở hữu chiếc xe trên nhưng đến nay chưa có tổ chức, cá nhân nào đến nhận tài sản. Do đó, Cơ quan điều tra tách chiếc xe mô tô trên để tiếp tục xác minh, truy tìm khi nào xác định được sẽ xử lý sau. Do vậy giao xe cho cơ quan điều tra Công an huyện Ng xử lý.
Đối với xe ô tô biển kiểm soát 82F-00046: anh Nguyễn Ngọc Th là chủ xe, quá trình điều tra, anh Th không có yêu cầu bồi thường thiệt hại gì nên cơ quan điều tra đã trả lại xe cho chủ sở hữu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Trả lại cho anh Nguyễn Ngọc Th 01 thiết bị giám sát hành trình xe ô tô, nhãn hiệu VCOMSAT số: 41/NK/2021/TCĐBVN có IMEL: 352538107083480, màu đen, có 02 (hai) đầu ghi hình, bên trong có chứa 01 (một) thẻ nhớ USB loại 64GB, trên thẻ nhớ có in dòng chữ “SanDisk Ultra”.
Trả lại cho bị cáo 01 giấy phép lái xe hạng E số 640126006197 mang tên Dương Minh T.
Về trách nhiệm dân sự: Công nhận sự thỏa thuận ngày 29/3/2023 giữa: Đại diện cho người bị hại là bà Nguyễn Thị L, ông Nguyễn Quang Kh, chị Nguyễn Thị D thỏa thuận với bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã thống nhất về mức bồi thường như sau: Anh Nguyễn Ngọc Th và Dương Minh Tr bồi thường cho gia đình bị hại tổng số tiền là 200.000.000đ (Hai trăm triệu đồng). Trong đó bị cáo Dương Minh Tr đã bồi thường số tiền là 30.000.000đ. Số tiền còn phải bồi thường là 170.000.000đ, anh Nguyễn Ngọc Th bồi thường số tiền là 145.000.000đ (một trăm bốn lăm triệu đồng), Dương Minh Tr bồi thường số tiền 25.000.000đ (hai mươi lăm triệu đồng) cho chị Nguyễn Thị D nhận tiền. Thời gian bồi thường vào ngày 24/4/2023. Nếu đến hạn mà bị cáo Dương Minh Tr và anh Nguyễn Ngọc Th không bồi thường thì còn phải chịu khoản tiền lãi là 10%/ năm/số tiền chậm trả.
Về hình phạt bổ sung: Cấm bị cáo hành nghề lái xe, thời gian là 12 tháng, kể từ ngày thi hành xong hình phạt tù.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đồi, bổ sung năm 2017);
Áp dụng khoản 2 Điều 136; Điều 106; Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23, và danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của y ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015; Áp dụng khoản 1 Điều 584, khoản1 Điều 585, khoản 1 Điều 586, khoản 1 Điều 589, Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015;
Xử:
1.Tuyên bố bị cáo Dương Minh Tr phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ ”
Xử phạt cáo Dương Minh Tr 12 ( mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
2.Về vật chứng: Trả lại cho anh Nguyễn Ngọc Th 01(một) thiết bị giám sát hành trình xe ô tô, nhãn hiệu VCOMSAT số: 41/NK/2021/TCĐBVN có IMEL: 352538107083480, màu đen, có 02 (hai) đầu ghi hình, bên trong có chứa 01 (một) thẻ nhớ USB loại 64GB, trên thẻ nhớ có in dòng chữ “SanDisk Ultra”.
Trả lại cho bị cáo 01(một) giấy phép lái xe hạng E số 640126006197 mang tên Dương Minh Tr.
Giao xe mô tô biển kiểm soát: 82V1-2039, số khung 431XAY 087593, số máy 43E131832 cho cơ quan điều tra Công an huyện Ng xử lý theo quy định của pháp luật.
Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/4/2023 giữa Công an huyện Ng và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ng.
3.Về án phí: Buộc bị cáo Dương Minh Tr phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước,
4. Về trách nhiệm dân sự: Công nhận sự thỏa thuận giữa những người đại diện cho người bị hại là bà Nguyễn Thị , ông Nguyễn Quang Kh, chị Nguyễn Thị D với bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Ngọc Th đã thống nhất về mức bồi thường như sau: Anh Nguyễn Ngọc Th và bị cáo Dương Minh Tr bồi thường cho gia đình bị hại tổng số tiền là 200.000.000đ (Hai trăm triệu đồng). Bị cáo Dương Minh Tr đã bồi thường số tiền là 30.000.000đ. Số tiền còn phải tiếp tục bồi thường là 170.000.000đ, trong đó anh Nguyễn Ngọc Th bồi thường số tiền là 145.000.000đ (một trăm bốn mươi lăm triệu đồng), bị cáo Dương Minh Tr bồi thường số tiền 25.000.000đ (hai mươi lăm triệu đồng) cho chị Nguyễn Thị D nhận tiền. Thời gian bồi thường vào ngày 24/4/2023. Nếu đến hạn mà bị cáo Dương Minh Tr và anh Nguyễn Ngọc Th không bồi thường thì còn phải chịu khoản tiền lãi là 10%/ năm/số tiền chậm bồi thường.
5. Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 260 Bộ luật hình sự: Cấm hành nghề lái xe đối với bị cáo Dương Minh Tr, thời gian là 12 tháng, kể từ ngày thi hành xong hình phạt tù.
6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, những người đại diện cho bị hại có quyền kháng cáo bản án, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Ngọc Th có quyền kháng cáo phần liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (19-4-2023). người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị H vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
7. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sư./.
| Nơi nhận: - Bị cáo; bị hại - Người có quyền lợi & NV LQ - Công an huyện - VKSND huyện; - Sở Tư Pháp - Lưu hồ sơ vụ án. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa |