vanban.org

Bản án 10/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 20/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt: Bị cáo Lương Văn Q: 03 (ba) năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.

Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị Q số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lương Văn Q. Quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lương Văn Q - phạm tội VPQĐVTGGTĐB - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Lương Văn Q: 03 (ba) năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LỤC NAM
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2023/HS-ST
Ngày 20/02/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ toạ phiên toà: Bà Giáp Thị Loan

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hoàng Hà

Ông Nguyễn Duy Cường

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam tham gia phiên toà: Ông Hoàng Văn Tùng - Kiểm sát viên.

Ngày 16/02/2023 và ngày 20/02/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 95/2022/TLST-HS ngày 20 tháng 12 năm 2022, theo Q định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2022/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 01 năm 2023 đối với bị cáo:

Lương Văn Q, sinh năm 1995. Tên gọi khác: không; Giới tính: nam; nơi cư trú: thôn B, xã T, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: nùng; tôn giáo: không; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 9/12; bố đẻ: Lương Văn H, sinh năm 1973; mẹ đẻ: Lý Thị Th, sinh năm 1975; gia đình bị cáo có 02 anh em, bản thân là con thứ 01 trong gia đình; bị cáo chưa có vợ và con.

- Tiền án, tiền sự: Không.

- Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn "Cấm đi khỏi nơi cư trú". Hiện bị cáo đang tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Anh Phùng Văn B, sinh năm 1993 (đã chết).

Người đại diện hợp pháp cho bị hại:

1. Ông Phùng Văn Hiến, sinh năm 1973 (Là bố bị hại, vắng mặt)

2. Bà Mã Thị H, sinh năm 1973 (Là mẹ bị hại, vắng mặt)

3. Cháu Phùng Thị K, sinh năm 2014 (Là con bị hại, vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.

Người đại diện hợp pháp cho cháu Liên: Bà Mã Thị H, sinh năm 1973 (vắng mặt).

Bà Hưởng, cháu Liên ủy quyền cho ông Hiến tham gia tố tụng tại Tòa án theo văn bản ủy quyền lập ngày 19/10/2022 (vắng mặt).

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Mã Thị H, sinh năm 1973 (vắng mặt).

2. Cháu Phùng Thị K, sinh năm 2014 (vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang

3. Anh Kim Văn P, sinh năm 2003 (vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn H, xã T, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.

4. Anh Ngô Hải N, sinh năm 2003 (vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn T, xã B, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.

Người làm chứng:

1. Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1994 (vắng mặt).

2. Anh Phùng Văn Th, sinh năm 1990 (vắng mặt).

Cùng có địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.

Người bào chữa cho bị cáo Lương Văn Q: Ông Thân Văn Lợi - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Bắc Giang (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lương Văn Q chưa có giấy phép lái xe hạng A1 theo quy định. Khoảng 19 giờ ngày 18/8/2022, Lương Văn Q đến quán bia nhà anh Phùng Văn Th ở cùng thôn uống bia cùng anh Thiều; anh Phùng Văn B; Nguyễn Văn H và Vi Văn Nguyên (đều ở cùng thôn với Q). Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, sau khi uống bia xong thì Q cùng anh Bình rủ nhau xuống thị trấn Đồi Ngô, huyện Lục Nam uống nước. Anh Bình đưa chìa khóa xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại SH125I, biển số 98F1-3*** cho Q, Q điều khiển xe mô tô chở anh Bình ngồi sau đi trên đường Tỉnh lộ 295 hướng xã Tam Dị đi thị trấn Đồi Ngô, huyện Lục Nam. Khi Q điều khiển xe mô tô đi đến Km 2+200 thuộc địa phận Thôn H, xã T, huyện Lục Nam, Q quan sát thấy phía trước có anh Ngô Hải N đang điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, Wave A, biển số 98F1-391.46 chở anh Kim Văn P đang đi từ cầu bên máng (từ thôn Hà Phú 13, xã Tam Dị) sang bên kia đường (hướng từ phải sang trái theo hướng Tam Dị đi thị trấn Đồi Ngô). Khi xe mô tô của anh Nam đi sang phần đường bên phải và đang đi chếch chéo về bên phải (hướng từ thị trấn Đồi Ngô đi xã Tam Dị) để rẽ vào Thôn H, xã T thì lúc này xe mô tô do Q điều khiển đi tới. Do khoảng cách gần nên bánh trước xe mô tô biển số 98F1-3*** do Q điều khiển đã đâm vào giá để chân sau bên trái của xe mô tô biển số 98F1-391.46 do anh Nam điều khiển. Hậu quả hai xe mô tô đổ, văng rê trên mặt đường, hư hỏng. Anh Nam, anh Phú, anh Bình ngã ra đường được đưa đi cấp cứu, đến ngày 20/8/2022 thì anh Bình tử vong.

Sau khi xảy ra vụ tai nạn, Đội Cảnh sát giao thông Công an huyện Lục Nam đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, đo nồng độ cồn trong hơi thở của Lương Văn Q, Ngô Hải N, kết quả: Lương Văn Q là 0,387mg/l; Ngô Hải N là 0,000mg/l và tạm giữ: 01 biển số 98F1-391.46 và 01 biển số 98F1-3***.

*) Khám nghiệm hiện trường:

Hiện trường xảy ra vụ tai nạn giao thông tại Km 2+200 đường Tỉnh lộ 295 thuộc địa phận Thôn H, xã T, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang. Mặt đường trải nhựa áp phan rộng 6,5m, giữa đường có vạch kẻ đường đứt quãng màu vàng chia thành hai phần đường. Nơi xảy ra vụ việc nằm trong khu vực đặt biển cảnh báo nguy hiểm nơi giao nhau với đường không ưu tiên ở hai phía hiện trường. Khám nghiệm theo hướng Tam Dị đi thị trấn Đồi Ngô, lấy mép đường bên phải hướng khám nghiệm làm mép chuẩn. Lấy cột điện số 1.2.5 bên phải hiện trường làm mốc chuẩn.

Tại hiện trường phát hiện:

- Vết cày xước mặt đường, ký hiệu (X1) kích thước (21,5x0,7)m, điểm đầu cách mép chuẩn là 4,4m, cách mốc chuẩn là 5,35m, điểm cuối cách mép chuẩn là 4,9m.

- Vết cày xước mặt đường, ký hiệu (X2) kích thước (2,1x0,65)m, điểm đầu vết cách mép chuẩn là 5,7m, cách mốc chuẩn là 9,3m, cách điểm đầu vết số (X1) là 4,8m, điểm cuối cách mép chuẩn là 7,8m.

- Xe mô tô biển số 98F1-391.46, ký hiệu (3) đổ nghiêng trái tại lề đường trước cửa quán bida "Hồng Phát". Tâm trục bánh trước cách mép chuẩn là 7,8m, tâm trục bánh sau cách mép chuẩn là 7,1m, cách mốc chuẩn là 10,8m. Đầu xe hướng chếch chéo bên trái và đi thị trấn Đồi Ngô. Đuôi xe hướng chếch chéo bên phải và hướng đi Tam Dị.

- Vết máu loang, ký hiệu (M) kích thước (0,5x0,4), tâm vết cách mép chuẩn là 2,8m, cách mốc chuẩn hướng đi Tam Dị là 19,7m.

- Xe mô tô biển số 98F1-3*** đổ nghiêng phải tại hiện trường, đầu xe hướng chếch bên phải và đi thị trấn Đồi Ngô, đuôi xe hướng chếch bên trái và hướng đi Tam Dị. Tâm trục bánh trước cách mép chuẩn là 4,7m, cách tâm vết máu (M) là 4,1m. Tâm trục bánh sau cách mép chuẩn là 5,5m, cách mốc chuẩn là 22,9m.

- Vị trí tiếp giáp lối đi thôn Hà Phú 12 với đường tỉnh 295 rộng 7m, vị trí giao nhau mép đường bên phải lối đi thôn Hà Phú 12 hướng từ đường tỉnh 295 đi thôn Hà Phú 12 cách điểm đầu vết (X1) là 3,7m. Điểm đầu vết (X1) cách mép đường trái theo hướng Tam Dị đi thị trấn Đồi Ngô là 2,77m.

- Vị trí tiếp giáp lối đi lên cầu bên máng thôn Hà Phú 13 với đường tỉnh 295 rộng 6,1m, vị trí giao nhau mép đường bên phải cầu đi thôn Hà Phú 13 hướng đường tỉnh 295 đi thôn Hà Phú 13 (cầu bên máng) cách điểm đầu vết (X1) là 7,4m.

*) Kết quả dựng lại hiện trường: Ngày 18/9/2022, Cơ quan điều tra Công an huyện Lục Nam tiến hành dựng lại hiện trường vụ tai nạn giao thông. Kết quả dựng lại hiện trường phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường do Đội Cảnh sát giao thông Công an huyện Lục Nam lập ngày 18/8/2022.

*) Khám nghiệm tử thi anh Phùng Văn B: Vùng đầu: Tóc đen, cắt trung bình; hai lỗ tai khô, miệng khép không kín, lưỡi trong cung răng; hai mắt khép không kín, đồng tử hai bên giãn. Vùng chẩm phải có vết thương rách ra, cách đỉnh vành tai trái 6,5cm, cách đường giữa chẩm 05cm, bờ mép nham nhở, còn cầu tổ chức, kích thước (2x0,6)cm, sâu sát xương, lóc tổ chức dưới da từ trên xuống dưới, từ sau ra trước. Vùng mép miệng, má, cổ hai bên có 01 rãnh hằng da khép kín, liên tục với khoang miệng, đậm ở bên phải, mờ dần về bên trái, tổ chức da sẫm màu. Vùng dưới cằm và góc hàm bên phải có diện bầm tím, sây sát da, kích thước(12x3)cm. Vùng ngực phải và bàn tay trái có hình xăm hoa văn màu xanh đỏ. Vùng phía trên xương đòn và ngực hai bên có rãnh hằn tím da, hình cung, kích thước (16x1,3)cm. Mặt sau vai phải có diện sây sát da, kích thước (6x3)cm. Mặt sau khuỷu tay phải có diện xây sát da, kích thước (4x2)cm. Vùng lưng và thắt lưng phải có diện sây sát da, bầm tím, kích thước (37x12)cm. Mặt sau vai trái có diện xây sát da, kích thước (9x5)cm. Mặt sau khuỷu tay trái có diện sây sát da, kích thước (3x2)cm. Mặt trước gối phải có diện sây sát da, bầm tím, kích thước (6x4)cm. Mặt trước gối trái có diện sây sát da, kích thước (5,5x2)cm.

*) Khám nghiệm phương tiện:

- Khám xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại SH125I, biển số 98F1-3***: Mặt ngoài ốp nhựa đầu xe phía trước bên phải bị mài sát sơn nhựa, kích thước (10x5,5)cm; Vỡ khuyết toàn bộ mặt nạ phía trước đầu xe, đèn xi nhan, đèn chiếu xa trên diện (35x40)cm; Vỡ khuyết cánh yếm hai bên; Đầu tay nắm bên phải có vết mài sát kim loại, kích thước (2x1)cm; Đầu tay phanh bên phải có vết mài sát kim loại, kích thước (1,8x1,8)cm; Mặt ngoài chắn bùn trước bánh trước bị nứt vỡ nhựa, mài sát nilon sơn nhựa trên diện (30x33)cm; vành bánh trước bên trái bị nứt vỡ kim loại, chùn cong theo hướng từ ngoài vào trục trên diện (39x5)cm, tâm vết cách chân van 24cm; Mặt ngoài bên trái lốp bánh trước có vết mài sát cao su, kích thước (14x4)cm tại vị trí tương ứng chùn cong vành bánh trước bên trái, tâm vết cách chân van 35cm; Mặt ngoài để chân trước bên phải có diện mài sát sơn nhựa, kích thước (17x3)cm; Mặt ngoài để chân sau bên phải có diện mài sát kim loại, kích thước (9,5x1,5)cm; Mặt ngoài ốp nhựa bảo vệ ống xả có vết mài sát sơn nhựa, kích thước (18x6)cm; Mặt ngoài tay xách sau phải có vết mài sát sơn kim loại, kích thước (13x1)cm; Mặt ngoài bên phải vành bánh trước bên phải có vết mài sát sơn kim loại, kích thước (1,8x1)cm. Tâm vết cách chân van 25cm.

- Khám xe mô tô nhãn hiệu nhãn hiệu Honda, loại Wave A, biển số 98F1-391.46: Ốp nhựa bảo vệ công tơ mét bật khỏi vị trí cố định; Mặt ngoài ốp nhựa phía trước bên trái đầu xe có vết mài sát nhựa, kích thước (19x8)cm; Đầu tay nắm bên trái có vết mài sát sơn kim loại, cao su trên diện, kích thước (4x2)cm; Cánh yếm bên trái bị mài sát sơn nhựa, kích thước (11x1)cm; Để chân trước bên trái bị cong vênh theo hướng từ sau ra trước; Đầu để chân trước bên trái có vết mài sát kim loại, kích thước (1,5x1,5)cm; Hộp xích bên trái bị cong vênh biến dạng, gấp kim loại theo hướng từ trái sang phải trên diện (30x22)cm; Gãy khuyết để chân sau bên trái, mặt ngoài giá gắn để chân sau bên trái có vết mài sát kim loại bám dính chất màu đen nghi cao su kích thước (5x3)cm, điểm thấp nhất cách đất 41,5cm; Mặt ngoài ốp nhựa phía trên giá gắn để chân sau bên trái có vết mài sát nhựa kích thước (8,5x9)cm, điểm thấp nhất cách đất 53,5cm; giảm sóc sau bên trái bị cong vênh theo hướng từ trước về sau, từ trái sang phải. Mặt ngoài vùng lõm có vết mài sát kim loại bám dính chất màu đen, kích thước (8,5x2)cm; Ốp nhựa phía trên giảm sóc sau bên trái bị gãy vỡ, mặt ngoài có vết mài sát sơn nhựa trên diện, kích thước (4,5x2,5)cm; Mặt ngoài ốp nhựa thân xe phía sau bên trái có vết mài sát sơn nhựa, dập vỡ nhựa kích thước trên diện (43x12)cm; Mặt ngoài tay xách sau bên trái có vết mài sát sơn nhựa trên diện, kích thước (17x3)cm; Khuyết chắn bùn gắn biển số phía sau banh sau.

Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định xác định nguyên nhân chết của anh Phùng Văn B. Tại Bản kết luận giám định pháp y tử thi số 1623/KL-KTHS ngày 14/9/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang, kết luận: Nguyên nhân chết của Phùng Văn B do chấn thương sọ não: Vỡ xương hộp sọ vùng chẩm-thái dương phải, tụ máu, chảy máu não.

- Cơ chế hình thành các vết thương trên cơ thể Phùng Văn B:

+ Các vết thương hằn tím da do quá trình xử lý cấp cứu tại bệnh viện (đặt nẹp cổ Colier, dây cố định đặt nội khí quản).

+ Các tổn thương bầm tím, sây sát, rách da được hình thành do tiếp xúc với vật tày, bề mặt không nhẵn tác động theo chiều hướng khác nhau tạo nên. Tổn thương vỡ xương hộp sọ, chảy máu, tụ máu não được hình thành do tiếp xúc với vật tày, lực tác động mạnh trực tiếp tạo nên là nguyên nhân gây tử vong của Phùng Văn B.

Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định cơ chế hình thành dấu vết vụ tai nạn, xác định vị trí va chạm của các phương tiện trên mặt đường, xác định tốc độ của phương tiện. Tại bản kết luận giám định số 1785/KL-KTHS ngày 07/10/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang, kết luận:

- Dấu vết nứt vỡ, mài sát sơn nhựa tại mặt trên chắn bùn bánh trước của xe mô tô biển kiểm soát 98F1-389.72, có chiều hướng từ trước ra sau (ảnh số 9 bản ảnh khám phương tiện) phù hợp với dấu vết cong vênh, mài sát kim loại, bám dính chất màu đen tại giảm sóc sau bên trái của xe mô tô biển kiểm soát 98F1- 391.46, có chiều hướng từ trước ra sau (ảnh số 12 bản ảnh khám phương tiện).

Dấu vết mài sát cao su, chùn cong, nứt vỡ kim loại tại bên trái má lốp bánh trước và vành bánh trước của xe mô tô biển kiểm soát 98F1- 389.72, có chiều hướng từ ngoài vào tâm bánh (ảnh số 10, số 11 bản ảnh khám phương tiện) phù hợp với dấu vết gãy khuyết, cong vênh, biến dạng, mài sát kim loại, bám dính chất màu đen tại bên trái hộp xích, để chân và giá để chân sau bên trái của xe mô tô biển kiếm soát 98F1- 391.46, có chiều hướng từ trước ra sau, từ trái sang phải (ảnh số 8, số 9 bản ảnh khám phương tiện).

- Dấu vết cày xước mặt đường ký hiệu X1 phù hợp với quá trình sau khi va chạm, xe mô tô biển kiểm soát 98F1- 389.72 đổ nghiêng phải, văng rê trên mặt đường tạo nên.

Dấu vết cày xước mặt đường ký hiệu X2 phù hợp với quá trình sau khi va chạm, xe mô tô biển kiếm soát là 98F1- 391.46 đổ nghiêng trái, văng rê trên mặt đường và lề đường tạo nên.

- Vị trí va chạm giữa xe mô tô biển kiểm soát 98F1 - 389.72 và xe mô tô biển kiếm soát 98F1 - 391.46 trên mặt đường tại trước điểm đầu dấu vết cày xước ký hiệu X1, thuộc chiều chuyển động bên trái theo hướng Tam Dị đi thị trấn Đồi Ngô.

- Chiều hướng di chuyển: tại thời điểm xảy ra tai nạn xe mô tô biển kiểm soát 98F1-389.72 chuyển động thẳng va chạm với xe mô tô biển kiếm soát 98F1 - 391.46 chuyển động ngược chiều, đầu xe chếch chéo sang bên trái theo hướng chuyển động của xe mô tô biển kiểm soát 98F1- 389.72.

- Không xác định được tốc độ của hai phương tiện tại thời điểm xảy ra tai nạn qua các dấu vết cơ học.

Đối với anh Ngô Hải N điều khiển xe mô tô biển số 98F1 - 391.46 đi ở phần đường bên phải theo chiều đi (theo hướng thị trấn Đồi Ngô đi Tam Dị) thì xảy ra va chạm với xe mô tô biển số 98F1 - 389.72 do Lương Văn Q điều khiển chở anh Phùng Văn B làm anh Bình tử vong. Kết quả điều tra xác định anh Nam không có lỗi trong vụ tai nạn giao thông trên nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Đối với Phùng Văn B đưa chìa khóa và xe mô tô cho Q điều khiển (khi Q không có giấy phép lái xe) dẫn đến tai nạn, tuy nhiên anh Bình đã chết nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Đối với thương tích của anh Ngô Hải N và anh Kim Văn P, sau khi tai nạn xảy ra được gia đình đưa đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện. Tuy nhiên, quá trình điều tra anh Nam, anh Phú đều có đơn xin từ chối giám định thương tích và không đề nghị giải Q nên Cơ quan điều tra không xem xét, đề cập xử lý.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình giải Q vụ án, Lương Văn Q đã thỏa thuận bồi thường cho gia đình anh Bình số tiền 20.000.000 đồng; anh Ngô Hải N đã hỗ trợ cho gia đình anh Bình số tiền 100.000.000 đồng. Đại diện gia đình anh Bình đã nhận số tiền trên và không yêu cầu bồi thường gì thêm, đồng thời có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho Q.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng trả lại cho anh Phùng Văn Hiến, sinh năm 1973 trú tại thôn B, xã T, huyện Lục Nam (là người đại diện theo ủy quyền của người bị hại) 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại SH125I, biển số 98F1-3***; trả lại cho anh Ngô Hải N 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave A, biển số 98F1-391.46.

Tại Cơ quan điều tra, Lương Văn Q thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu ở trên.

Tại bản Cáo trạng số: 01/CT-VKS ngày 20 tháng 12 năm 2022 Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam đã truy tố bị cáo Lương Văn Q về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Lương Văn Q khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố.

Người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam phát biểu lời luận tội vẫn giữ nguyên Cáo trạng đã truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lương Văn Q phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” và căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lương Văn Q từ 03 (ba) năm đến 03 (ba) năm 06 (sáu ) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án. Về án phí: Đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo do bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn. Về quyền kháng cáo: Đề nghị tuyên theo quy định pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận.

Người bào chữa cho bị cáo có ý kiến tranh luận: Bị cáo là người dân tộc Nùng, sống ở vùng kinh tế khó khăn, bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 20.000.000 đồng (bằng chữ: Hai mươi triệu đồng), phía gia đình người bị hại có đơn xin miễn trách nhiêm hình sự cho bị cáo. Như vậy, bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo mức từ 20 đến 22 tháng tù cho hưởng án treo. Trong trường hợp tuyên hình phạt tù giam thì đề nghị Hội đồng xét xử tuyên mức phạt từ 20 tháng đến 22 tháng tù giam.

Đại diện VKSND huyện Lục Nam có ý kiến tranh luận đối đáp với người bào chữa cho bị cáo: Trên cơ sở xem xét, đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS, tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, VKSND huyện Lục Nam đề nghị hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo từ 3 (ba) năm đến 3 (ba) năm 6 (sáu) tháng là phù hợp.

Bị cáo Q nói lời sau cùng: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Đánh giá tính hợp pháp về hành vi, Q định tố tụng của Cơ quan điều tra - Công an huyện Lục Nam, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo, người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Q định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó cần xác định các hành vi, Q định tố tụng của Cơ quan điều tra - Công an huyện Lục Nam, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam và Kiểm sát viên đã thực hiện là đúng pháp luật.

Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Những người này đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự, Q định tiếp tục xét xử.

Đánh giá chứng cứ:

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận về toàn bộ hành vi của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của người đại diện hợp pháp của bị hại, người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông, biên bản dựng lại hiện trường và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên toà. Vì vậy đã có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 22 giờ 18/8/2022, Lương Văn Q sau khi uống bia và chưa có giấy phép lái xe hạng A1 theo quy định, điều khiển xe mô tô biển số 98F1-3*** chở sau anh Phùng Văn B đi trên đường Tỉnh lộ 295 hướng xã Tam Dị đi thị trấn Đồi Ngô, huyện Lục Nam. Khi đi đến đoạn Km 2+200 thuộc địa phận Thôn H, xã T, huyện Lục Nam do không chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ và không đi đúng làn đường vi phạm khoản 8, khoản 9 Điều 8; khoản 1, Điều 9; Điều 12 Luật giao thông đường bộ nên đã để phần đầu xe mô tô biển số 98F1-3*** do Q điều khiển đâm vào giá để chân sau bên trái xe mô tô biển số 98F1- 391.46 do anh Ngô Hải N điều khiển, chở sau anh Kim Văn P đi ngược chiều ở phần đường bên trái theo hướng đi của Q. Hậu quả anh Bình bị chết do chấn thương sọ não: Vỡ xương hộp sọ vùng chẩm-thái dương phải, tụ máu, chảy máu não.

Hành vi của bị cáo Lương Văn Q điều khiển xe ô tô không tuân thủ quy định về làm chủ tốc độ, không chú ý quan sát để giữ một cách an toàn khi thấy người khác điều khiển xe mô tô sang đường vi phạm khoản 9 Điều 8; Điều 12 của Luật giao thông đường bộ. Hậu quả làm anh Phùng Văn B chết. Nên đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại Điều 260 của Bộ luật hình sự.

Do bị cáo không có giấy phép lái xe và trong tình trạng sử dụng bia mà trong hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định nên đã phạm vào điểm a, b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Như vậy Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Đánh giá mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội:

Bị cáo Q do không chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ, không đi đúng làn đường, điều khiển xe sau khi uống bia và chưa có giấy phép lái xe hạng A1 theo quy định đã gây tai nạn, hậu quả làm chết anh Phùng Văn B. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây thiệt hại về tính mạng của bị hại, trực tiếp xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Do đó, cần thiết phải xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự, nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Xét nhân thân bị báo: Bị cáo không có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo qui định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; bồi thường cho gia đình người bị hại; gia đình người bị hại có đơn đề nghị miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ được qui định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử áp dụng để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Người đại diện hợp pháp của bị hại đã được bồi thường 20.000.000 đồng và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm. Nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải Q.

Về vật chứng: Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng trả lại cho ông Phùng Văn Hiến (là người đại diện theo ủy quyền của người bị hại) 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại SH125I, biển số 98F1-3***; trả lại cho anh Ngô Hải N 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave A, biển số 98F1-391.46 là đúng quy định pháp luật.

Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị Q số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; bị cáo Q là người dân tộc thiểu số sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn nên bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ: Điểm a, b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Lương Văn Q: 03 (ba) năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.

2. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị Q số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lương Văn Q.

3. Quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hoàng Hà Nguyễn Duy Cường

Giáp Thị Loan

Cỡ chữ