- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2, Điều 175 Bộ luật Hình sự và tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ c…"
- Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự:
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 10/2023/HS-ST Ngày: 27 - 02 - 2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG, TỈNH PHÚ THỌ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Văn Thắng
- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Trí Dũng
2. Ông Nguyễn Hữu Mùi
- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Duyên - Thư ký, Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đoan Hùng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Phƣơng Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 59/2022/TLST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 69/2022/QĐXXST - HS ngày 29 tháng 12 năm 2022, Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2023/HSST-QĐ, ngày 09/02/2023 đối với bị cáo:
Họ và tên Đào Anh N, sinh ngày 18 tháng 02 năm 1996 tại Đoan H, Phú Th. Nơi cư trú: Khu 7, xã Sóc Đ, huyện Đoan H, tỉnh Phú Th; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 07/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Bố đẻ: Đào Trọng L (đã chết); Mẹ đẻ: Hoàng Thị Th, sinh năm 1976; Vợ, con: Chưa có;
Tiền án: Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số 80/2020/HSST ngày 01/6/2020 của Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội đã xử phạt Đào Anh N 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Án phí HSST: Năng phải nộp 200.000 đồng. Năng đã chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 10/9/2020. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/3/2021.
Tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 28/7/2022 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trạm tạm giam Công an tỉnh Phú Thọ. Có mặt
Bị hại: Anh Nguyễn Trung H, sinh năm 1984; Nơi cư trú: Khu Phú Th, thị trấn Đoan H, huyện Đoan H, tỉnh Phú Th. Vắng mặt
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1983; Nơi cư trú: Khu 1, xã Hùng L, thành phố Việt Tr, tỉnh Phú Th. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đào Anh N, sinh năm 1996, trú tại khu 7, xã Sóc Đ, huyện Đoan H, tỉnh Phú Th có quen biết anh Nguyễn Trung H, sinh năm 1984, trú tại khu Phú Th, thị trấn Đoan H, huyện Đoan H, tỉnh Phú Th. Ngày 12/6/2022, N sử dụng chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro, lắp sim số 0828.134.567 gọi điện thoại, nhắn tin đến số 0383.112.388 của anh H để hỏi thuê xe ô tô tự lái thì được anh Hưng đồng ý. Ngày 14/6/2022, Năng đến nhà anh H để thuê xe. Sau khi trao đổi và thỏa thuận bằng miệng với nhau, anh H đồng ý cho N thuê chiếc xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA VIOS, BKS: 30A-305.25 với giá 600.000 đồng/ngày. Anh H yêu cầu N cứ 05 ngày phải trả tiền thuê xe một lần và phải mang xe về để H kiểm tra tình trạng xe. Anh H giao cho N xe ô tô và các loại giấy tờ của xe gồm: Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ (bản gốc), Giấy chứng nhận bảo hiểm (bản gốc), Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô (bản phô tô công chứng) cho N. Đến ngày 16/6/2022, Anh H gọi điện thoại và nhắn tin qua ứng dụng Zalo yêu cầu Năng mang xe về trả thì Năng đề nghị thuê thêm thời gian. N đồng ý và chuyển khoản cho anh H số tiền 3.000.000 đồng từ số tài khoản 0979888888888 của N tại Ngân hàng MB Bank đến số tài khoản 104863888882 của anh H tại Ngân hàng Vietinbank. Ngày 18/6/2022, N điều khiển xe ô tô về cho anh H kiểm tra sau đó tiếp tục thuê xe và trả trực tiếp cho anh H số tiền 3.000.000 đồng. Ngày 28/6/2022, N tiếp tục trả cho anh H 3.000.000 đồng tiền thuê xe qua tài khoản ngân hàng ở trên.
Ngày 29/6/2022, do không có tiền chi tiêu cá nhân nên N nảy sinh ý định bán chiếc xe ô tô của anh H. Ngày 30/6/2022, N sử dụng tài khoản Facebook “Đào Anh N” của mình tìm kiếm nội dung làm giấy tờ giả thì tìm được tài khoản Facebook có nickname “làm giấy tờ giả nhanh gọn”, N nhắn tin qua tin nhắn Mesenger cho tài khoản facebook này đặt vấn đề làm giấy chứng nhận đăng ký xe giả của chiếc ô tô TOYOTA VIOS, BKS: 30A-305.25 thì được chủ tài khoản facebook này đồng ý với mức giá 2.000.000 đồng. N chụp ảnh bản photo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô của anh H rồi gửi qua tin nhắn Messenger cho tài khoản Facebook trên. Người này nhắn tin hẹn N đến khu vực phường Mỹ Đ, quận Nam Từ L, thành phố Hà N để nhận giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô giả và thanh toán tiền. Đến khoảng 20h00 phút cùng ngày, N đến điểm hẹn gặp một người nam giới làm nghề giao hàng, người này đưa cho N giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô giả với các thông tin ghi như trong giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô thật. N nhận đăng ký giả và trả cho người này số tiền 2.000.000 đồng. Đến ngày 02/7/2022, N mang chiếc xe ô tô trên cùng Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô giả, giấy chứng nhận kiểm định, giấy chứng nhận bảo hiểm của xe ô tô đến bán cho anh Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1983, ở xã Hùng L, thành phố Việt Tr, tỉnh Phú Th với giá 200.000.000 đồng. Do N không có Giấy chứng minh nhân dân nên anh H chỉ trả trước số tiền 120.000.000 đồng, cộng thêm 2.000.000 đồng trước đó N vay của anh H nên trong giấy bán xe ghi anh H đã trả 122.000.000 đồng. Anh H hẹn khi nào N đem Giấy chứng minh nhân dân đến để làm thủ tục công chứng mua bán xe thì H sẽ trả hết số tiền còn lại là 78.000.000 đồng. Sau khi mua xe ô tô của N, anh H nhiều lần gọi điện thoại cho N để yêu cầu N đem giấy chứng minh nhân dân đến để làm thủ tục mua bán xe nhưng không liên lạc được với N. Anh H nghi ngờ giấy tờ xe là giả nên đến Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Đoan H để trình báo và giao nộp xe ô tô và các loại giấy tờ trên. Còn về phần N, sau khi bán xe ô tô cho anh H, N đã nhận tiền và sử dụng chi tiêu cá nhân hết.
Từ ngày 28/6/2022, anh Nguyễn Trung H đã nhiều lần yêu cầu N trả tiền thuê xe và trả lại xe nhưng N không trả. Ngày 08/7/2022, anh H có đơn tố giác Đào Anh N về hành vi chiếm đoạt tài sản là chiếc xe ô tô của mình.
Ngày 15/7/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Đoan H đã tiến hành trưng cầu định giá tài sản đối chiếc xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA VIOS màu ghi vàng, BKS: 30A-305.25. Theo Bản Kết luận định giá tài sản số 37/KL–HĐĐGTS ngày 18 tháng 7 năm 2022 của Hội đồng định giá tài sản huyện Đoan H kết luận:
“Giá trị 01 xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA – VIOS, màu ghi vàng, 5 chỗ ngồi, số máy: 2NZ7229693, số khung: RL4BW9F33E4000704, biển số 30A-305.25, sản xuất năm 2014 tại Việt Nam thời điểm định giá tháng 06/2022 trị giá 170.000.000 đồng (Một trăm bảy mươi triệu đồng)”.
Ngày 18/7/2022, Đào Anh N đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đoan H đầu thú.
Ngày 28/7/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Đoan Hùng ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với Đào Anh N về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 175 Bộ luật Hình sự.
Ngày 24/8/2022, Cơ quan điều tra đã tiến hành trưng cầu giám định số 165/QĐ-TCGĐ: Trưng cầu giám định chữ ký và con dấu trên Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô ghi số 687987 do Nguyễn Ngọc H giao nộp. Theo Bản kết luận giám định số 1190/KL-KTHS ngày 31/8/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Phú Thọ kết luận:
“Hình dấu tròn màu đỏ có nội dung “Phòng Cảnh sát giao thông Công an thành phố Hà Nội” trên “Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô” số 687987 (mẫu cần giám định ký hiệu A) so với hình dấu tròn màu đỏ có cùng nội dung trên mẫu so sánh (ký hiệu M1) không phải do cùng một con dấu đóng ra”.
“Chữ ký đứng tên Thượng tá Dương Đức Hải trên “Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô” số 687987 (mẫu cần giám định ký hiệu A) so với chữ ký mẫu trên mẫu so sánh (ký hiệu M2) không phải do cùng một người ký ra.”
Ngày 07/10/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đoan H ra Quyết định bổ sung Quyết định khởi tố vụ án hình sự số 02 và Quyết định bổ sung Quyết định khởi tố bị can số 01 đối với Đào Anh N về tội Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức theo quy định tại khoản 2 Điều 341 Bộ luật Hình sự.
Tại bản Cáo trạng số: 65/CT - VKSĐH ngày 18/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đoan H, tỉnh Phú Th truy tố bị cáo Đào Anh N về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2, Điều 175 Bộ luật Hình sự và tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức; sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 341 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đoan H, tỉnh Phú Th vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:
1. Về trách nhiệm hình sự:
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 175; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với Đào Anh N về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 341 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với Đào Anh N về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức; sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
Tuyên bố bị cáo Đào Anh N phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức; sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
Xử phạt bị cáo Đào Anh N từ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng đến 04 (bốn) năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
Xử phạt bị cáo Đào Anh N từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm tù về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức; sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
Căn cứ Điều 55 Bộ luật Hình sự: Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Đào Anh N phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là từ 06 (sáu) năm đến 07 (bẩy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam là ngày 28/7/2022.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Về trách nhiệm dân sự:
Căn cứ khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự; Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự.
- Xác nhận anh Nguyễn Trung H đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu, đề nghị gì về trách nhiệm dân sự đối với bị cáo N.
- Buộc bị cáo Đào Anh N phải trả lại số tiền 122.000.000 đồng cho anh Nguyễn Ngọc H.
3. Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu để tiêu hủy 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô giả ghi số 687987, biển số 30A-305.25 mang tên Nguyễn Trung T;
- Xác nhận Cơ quan điều tra đã trả cho anh Nguyễn Trung H 01 xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA VIOS màu ghi vàng, BKS: 30A-305.25; 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường số KD 5807055, 01 giấy chứng nhận bảo hiểm số AD22/0160825.
4. Về án phí: Áp dụng Khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Điểm a, f Khoản 1 Điều 23, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự trong vụ án hình sự theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Đào Anh N thừa nhận hành vi phạm tội của mình, không có ý kiến tranh luận, có lời nói sau cùng là mong được pháp luật khoan hồng đề bị cáo sớm được trở lại với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ
vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem đánh giá toàn diện và đẩy đủ các tài liệu chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Quá trình điều tra không ai có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng tại toà án và tại phiên toà, bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó Hội đồng xét xử nhận định các hành vi, quyết định tố tụng của điều tra viên, kiểm sát viên là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về căn cứ buộc tội: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Đào Anh N trình bày, sau khi thuê xe ô tô TOYOTA VIOS, BKS 30A-305.25 của anh Nguyễn Trung H, vài ngày sau bị cáo đã nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe mô tô trên của anh H để bán lấy tiền tiêu sài và việc bị cáo mua đăng ký xe ô tô giả là nhằm mục đích để bán được xe ô tô (hoàn thành việc chiếm đoạt tài sản của anh Nguyễn Trung H). Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, và các tài liệu chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Do vậy có đủ cơ sở để kết luận: Ngày 14/6/2022, Đào Anh N đã có hành vi thuê xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA VIOS, BKS 30A-305.25 trị giá 170.000.000 đồng (Một trăm bảy mươi triệu đồng) của anh Nguyễn Trung H để tự lái. Đến ngày 29/6/2022 do không có tiền để chi tiêu cá nhân, N đã liên hệ với một người qua mạng xã hội Facebook để làm giấy chứng nhận đăng ký giả của xe ô tô trên để bán cho anh Nguyễn Ngọc H nhằm chiếm đoạt chiếc xe ô tô trị giá 170.000.000 đồng của anh Nguyễn Trung H. Hành vi nêu trên của bị cáo Đào Anh N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại c khoản 2 Điều 175 của Bộ luật hình sự và tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức; sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 341 Bộ luật hình sự.
Do vậy, Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đoan H đối với bị cáo Đào Anh N là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về tính chất hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo Đào Anh N lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản; Hành làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức; sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức đã xâm phạm đến Hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức trong lĩnh vực quản lý hành chính cơ quan Nhà nước về con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác. Hai hành vi nêu trên của bị cáo đều thuộc trường hợp nghiêm trọng.
Về nhân thân: Bị cáo không có tiền sự nhưng có 1 tiền án về tội trộm cắp tài sản.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Đào Anh N được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và 01 tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51của Bộ luật Hình sự là bị cáo tự ra đầu thú.
Bị cáo Đào Anh N phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự là tái phạm.
Căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo. Trên cơ sở phục vụ công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm cần chấp nhận đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đoan Hùng là áp dụng hình phạt tù đối với cả hai tội mà bị cáo đã thực hiện với mức đủ để bị cáo tỉnh ngộ, sớm cải tạo thành công dân có ích cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định khoản 5 Điều 175 của Bộ luật hình sự thì bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Theo quy định tại khoản 4 Điều 341 của Bộ luật hình sự thì bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.
Tuy nhiên, kết quả xác minh của Cơ quan điều tra và lời trình bày tại phiên tòa cho thấy bị cáo là lao động tự do không có tài sản riêng và để tạo thuận lợi cho bị cáo tái hòa nhập cộng đồng sau khi chấp hành án xong nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Đào Anh N.
Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại về tài sản nên không đề cập giải quyết.
Số tiền 122.000.000 đồng bị cáo nhận của anh Nguyễn Ngọc H cần buộc bị cáo phải trả lại cho anh H.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô giả ghi số 687987, biển số 30A-305.25 mang tên Nguyễn Trung T là vật cấm lưu hành nên cần tịch thu để tiêu hủy.
- Cơ quan điều tra đã trả cho anh Nguyễn Trung H 01 xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA VIOS màu ghi vàng, BKS: 30A-305.25; 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường số KD 5807055, 01 giấy chứng nhận bảo hiểm số AD22/0160825 là hợp pháp cần xác nhận.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hình sự theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
1. Về trách nhiệm hình sự:
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 175; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với Đào Anh N về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 341 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với Đào Anh N về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức; sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” .
Tuyên bố bị cáo Đào Anh N phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức; sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
Xử phạt bị cáo Đào Anh N từ 03 (ba) năm 06 (sáu) tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”
Xử phạt bị cáo Đào Anh N từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức; sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 55 của Bộ luật Hình sự: Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Đào Anh N phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 06 (sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam là ngày 28/7/2022.
2. Về trách nhiệm dân sự:
Căn cứ khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự; Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự.
Buộc bị cáo Đào Anh N phải trả lại cho anh Nguyễn Ngọc H 122.000.000 đồng (một trăm hai mươi hai triệu đồng) .
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
3. Về xử lý vật chứng:
Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự; c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu để tiêu hủy 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô giả ghi số 687987, biển số 30A-305.25 mang tên Nguyễn Trung T (Theo biên bản giao vật chứng đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Đoan H ngày 23/02/2023);
- Xác nhận CSĐT- Công an huyện Đoan H đã trả cho anh Nguyễn Trung H 01 xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA VIOS màu ghi vàng, BKS: 30A-305.25; 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường số KD 5807055, 01 giấy chứng nhận bảo hiểm số AD22/0160825. (Theo biên bản trả lại tài sản, đồ vật, tài liệu lưu trong hồ sơ vụ án);
4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, f Khoản 1 Điều 23, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Đào Anh N phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 6.100.000 đồng (sáu triệu một trăm nghìn đồng)án phí dân sự trong vụ án hình sự.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 6,7,7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có mặt được quyền kháng cáo đến Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắ ng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bả n á n được giao cho họ hoặ c bả n á n được niêm yế t./.
| Nơi nhận: - Sở Tư pháp tỉnh Phú Th; - VKS ND tỉnh Phú Th; - VKS ND huyện Đoan H; - Công an huyện Đoan H; - Trại giam; - Chi cục THADS huyện Đoan H; - UBND xã Sóc Đ; - Bị cáo; - Bị hại; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lưu HSVA; VP | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Văn Thắng |