- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Đình K, sinh năm 1993; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Xóm C, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch…"
- Tòa quyết gì? 38; Điều 47 của Bộ luật hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 10/2023/HS-ST Ngày: 05 - 01 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Giang
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông: Dương Viết Vĩnh
Bà: Vũ Thị Ngọc Phan
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Giáp - Thư ký Tòa án nhân dân
huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh Thái Nguyên tham
gia phiên tòa: Ông Lưu Nguyên Vũ - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 01 năm 2023, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân
huyện P, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 161/2022/TLST-HS, ngày 22/12/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 163/2022/QĐXXST-HS ngày 23/12/2022, đối với bị cáo:
Họ và tên: Bùi Đình K, sinh năm 1993; Giới tính: Nam; Tên gọi khác:
Không; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Xóm C, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 10/12; Con ông: Bùi Đình L, con bà: Hoàng Thị H; Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ ba trong gia đình; Chưa có vợ, con; Tiền án: Không.
Tiền sự: Ngày 09/9/2022 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Thái
Nguyên quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian 24 tháng. Bị cáo chưa chấp hành quyết định.
1
Nhân thân: Ngày 25/7/2018 bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố M, tỉnh
Quảng Ninh xử phạt 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 18/6/2019.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/9/2022 đến nay. Hiện đang bị
tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên.
(Có mặt tại phiên tòa).
- Người chứng kiến:
1. Anh Dương Minh T, sinh năm 1986.
Trú tại: Xóm T, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
(Vắng mặt tại phiên tòa).
2. Anh Dương Văn h, sinh năm 1992.
Trú tại: Xóm Đ, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
(Vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại
phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 29/9/2022, tổ công tác của Công an xã Đ và
Công an xã U, huyện P, tỉnh Thái Nguyên trong khi phối hợp tuần tra đảm bảo an ninh trật tự tại khu vực xóm Trạng, xã Đ, huyện P phát hiện bắt quả tang Bùi Đình K đang tàng trữ trái phép chất ma túy. K tự giác lấy từ bên trong túi quần bên phải phía trước đang mặc ra 01túi nilon màu trắng, bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng theo K khai nhận là ma tuý loại Heroine của K mua về để sử dụng cho bản thân giao nộp cho tổ công tác. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng (01 túi nilon chứa ma túy ký hiệu A) theo quy định và bàn giao K cùng vật chứng cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công anhuyện P để điều tra làm rõ.
Hồi 20 giờ 30 phút cùng ngày, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện
P đã phối hợp cùng Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên tiến hành mở niêm phong bì thư ký hiệu A cân xác định khối lượng chất bột dạng cục màu trắng bên trong túi nilon màu trắng thu giữ của K có khối lượng là 0,161 gam, lấy toàn bộ niêm phong vào bì thư ký hiệu A1 gửi Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên để giám định.
2
Tại bản kết luận giám định số 1559/KL-KTHS ngày 07/10/2022 của
Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái nguyên, kết luận: mẫu chất bột màu trắng trong bì thư niêm phong ký hiệu A1 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine có khối lượng là 0,161gam.
Tại cơ quan điều tra, Bùi Đình K khai nhận hành vi phạm tội như sau: K
là người nghiện chất ma tuý nên thường phải đi mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Khoảng 15giờ 00 phútngày 29/9/2022, K đi bộ từ phòng trọ thuộc Tổ dân phố Mãn Chiêm, phường Hồng Tiến, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên ra khu vực xóm Trạng, xã Đ, huyện P để mua ma túy về sử dụng, tại đây K gặp một người đàn ông K không biết tên, tuổi, địa chỉ hỏi mua được 01 gói ma túy loại Heroine với giá 100.000 đồng của người này. Sau khi mua được ma túy, K cất gói ma túy vào túi quần bên phải phía trước đang mặc rồi đi bộ về tìm nơi sử dụng thì bị tổ công tác của Công an xã Đ và Công an xã U, huyện P phát hiện bắt quả tang như đã nêu trên.
Tại phiên tòa bị cáo Bùi Đình K khai nhận rõ hành vi phạm tội như đã
khai tại Cơ quan điều tra và bản cáo trạng nêu trên.
Bản cáo trạng số 14/CT-VKSPB, ngày 22/12/2022 của Viện kiểm sát
nhân dân huyện P, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo Bùi Đình K về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm, trong phần tranh luận vị đại diện Viện Kiểm sát
nhân dân huyện P đã trình bày lời luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: Bị cáo Bùi Đình K phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma
túy”. Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Bùi Đình K từ 36 đến 42 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo; về xử lý vật chứng cần tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu. Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Trong phần tranh luận, bị cáo thừa nhận việc truy tố, xét xử là không
oan, đúng người, đúng tội. Lời nói sau cùng bị cáo rất ăn năn, hối hận về hành vi phạm tội của mình, bị cáo thấy có lỗi với bố mẹ và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt thấp nhất để bị cáo sớm có cơ hội được trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
3
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện
P; Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân huyện P; Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay bị cáo đã khai nhận
toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. Bị cáo thừa nhận do nghiện ma tuý nên đã tàng trữ ma tuý trong người để sử dụng cho bản thân không bán lại cho ai, không nhằm mục đích gì khác. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với chính lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong, cân xác định khối lượng ma túy, kết luận giám định, phù hợp với lời khai người tham gia tố tụng khác cũng như các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định:
Hồi 15 giờ 50 phút ngày 29/9/2022 tại khu vực xóm Trạng, xã Đ, huyện P,
Bùi Đình K là người nghiện chất ma túy đã có hành vi tàng trữ 0,161 gam ma túy loại Heroine với mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác của Công an xã Đ phối hợp cùng Công an xã U, huyện P phát hiện bắt quả tang thu giữ vật chứng. Sau đó chuyển vụ việc đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P điều tra theo thẩm quyền.
Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma
tuý, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật viện dẫn nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Điều 249 của Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích
mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
…
4
c) Heroine....có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
...
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến
500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản".
Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các
tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy
hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý và sử dụng các chất gây nghiện, gây mất trật tự trị an ở địa phương, là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thực sự thành khẩn khai báo.
Vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Tuy nhiên, bị cáo có nhân thân xấu, ngày 25/7/2018 bị cáo bị Tòa án
nhân dân thành phố M, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đến ngày 09/9/2022 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Thái Nguyên quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian 24 tháng. Bị cáo chưa chấp hành quyết định thì lại tiếp tục phạm tội.
Vì vậy, căn cứ vào nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cũng như
tính chất, mức độ của tội phạm, Hội đồng xét xử thấy cần có một mức án tương xứng với tội trạng mà bị cáo gây ra và cần thiết cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội đồng thời răn đe phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ
sơ vụ án và xác minh lời khai của bị cáo tại phiên tòa, xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma tuý, không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
5
Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều
106 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xử lý vật chứng như sau:
Đối với vật chứng là 01 (một) bì thư niêm phong còn nguyên vẹn được
dán kín có dấu đỏ ký hiệu A1, ngoài bì thư có ghi hoàn trả 0,157 gam ma túy còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu A1 vụ Bùi Đình K, sinh năm 1993, xét thấy đây là vật nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát trong lời luận tội đối với bị
cáo như đề nghị về tội danh, điều luật áp dụng, hình phạt, xử lý vật chứng là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật cần chấp nhận.
Về tạm giam bị cáo sau khi tuyên án: Căn cứ vào Điều 329 của Bộ
luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử ra Quyết định tạm giam bị cáo Bùi Đình K với thời hạn 45 (Bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.
Về nguồn gốc số ma túy: K khai mua ma túy của một người đàn ông
không rõ tên tuổi, địa chỉ ở khu vực xóm Trạng, xã Đ, huyện P. Quá trình điều tra không đủ căn cứ để xác định người K đã mua ma túy là ai nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không có căn cứ để mở rộng điều tra vụ án.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm
để nộp ngân sách nhà nước.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy
định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều
38; Điều 47 của Bộ luật hình sự. Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Đình K phạm tội “Tàng trữ trái phép
chất ma túy”.
2. Về hình phạt chính: Xử phạt Bùi Đình K 03 (Ba) năm tù. Thời hạn
chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/9/2022.
6
3. Về tạm giam bị cáo sau khi tuyên án: Quyết định tạm giam bị cáo Bùi
Đình K với thời hạn 45 (Bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.
4. Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bì thư niêm phong còn nguyên vẹn được dán
kín có dấu đỏ ký hiệu A1, ngoài bì thư có ghi hoàn trả 0,157 gam ma túy còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu A1 vụ Bùi Đình K, sinh năm 1993.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/12/2022 giữa Công an
huyện P và Chi cục Thi hành án dân sự huyện P).
5. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Bùi Đình K phải nộp
200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước.
6. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai có mặt bị cáo (Bùi Đình K),
báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thái Nguyên; - VKS ND tỉnh Thái Nguyên; - VKS ND huyện P; - Cơ quan điều tra CA huyện P; - CQTHAHS Công an huyện P; - Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên; - CC T.H.A DS huyện P; - Bị cáo; - Trung tâm cai nghiện đa chức năng tỉnh Thái Nguyên; - Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên; - Lưu: HS, VP, T.H.A HS./. 7 | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Giang |