- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung…"
- Tòa quyết gì? Về điều luật áp dụng và tội danh: Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 và Điều 65 Bộ luật hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 10/2023/HS-ST Ngày 09/3/2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ Tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Phong
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Nguyễn Thành Thái
2/ Bà Nguyễn Hải Anh
- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Lữ Cẩm Nhung – Thƣ ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Vƣơng - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 3 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang, xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 08/2023/TLST-HS ngày 17 tháng 01 năm 2023, về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ” theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 14/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo:
Trần Kỳ Đ, sinh ngày 15/9/1963 tại Kiên Giang; Nơi cƣ trú: số 204, Nguyễn Thị Đ, khu phố C, phƣờng H, thành phố G, tỉnh G; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Hƣu trí; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Trần Văn C, sinh năm 1930 (Chết) và bà Nguyễn Thị R, sinh năm 1932; Vợ tên Huỳnh Thị Đ, sinh năm 1968; Có 03 ngƣời con: Lớn nhất sinh năm 1988 và nhỏ nhất sinh năm 1994; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo đƣợc cho tại ngoại để điều tra, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Ngƣời bị hại: Ông Phan Văn K, sinh năm 1946 (Đã chết)
Ngƣời đại diện hợp pháp cho gia đình ngƣời bị hại: Chị Phan Thị Ú (N), sinh năm 1986 (Có mặt)
Trú tại: Khu phố P, phƣờng H, thành phố G, tỉnh G.
Ngƣời làm chứng:
- Anh Huỳnh Tuấn K1, sinh năm 1990 (Vắng mặt)
Trú tại: Thôn S, xã N, huyện A, tỉnh Đ
- Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1990 (Vắng mặt)
Trú tại: Tổ 8, ấp P, xã B, huyện T, tỉnh G
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 11 giờ 00 phút ngày 19/12/2021, Trần Kỳ Đ, sinh ngày 15/9/1963, nơi cƣ trú: số 204 Nguyễn Thị Đ, khu phố C, phƣờng H, thành phố G, tỉnh G điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại AIR BLADE, màu xanh đen, biển số 68S1-669.21 chở ông Phan Văn K từ thành phố G, tỉnh G đến nhà con ông K tại thị trấn Thứ Mƣời Một, huyện M, tỉnh G để chơi. Đến chiều tối cùng ngày Đ có uống bia và ngủ lại đây. Sáng ngày 20/12/2021 Đ tiếp tục sử dụng thêm rƣợu trắng.
Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, Đ điều khiển xe chở ông K quay về thành phố G. Khi Đ điều khiển xe đến cây xăng Nam Hƣng thì ông K kêu Đ rẽ vào đƣờng Võ Văn K để cho K tham quan đƣờng, do K chƣa từng đi đƣờng này, thì Đ đồng ý. Khi Đƣợc điều khiển xe qua khỏi ngã tƣ Giục Tƣợng thuộc địa phận ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh G thì Đ nhìn thấy phía trƣớc cùng chiều có một xe ô tô đầu kéo, biển số 51D-479.66 kéo theo rơ móc biển số 51R-169.81 do Huỳnh Tuấn K1 quản lý và làm tài xế xe đang đậu có bật đèn nhan báo hiệu (lúc này phần đƣờng nơi xe rơ moóc đậu còn rộng khoảng 2,7m cho phƣơng tiện khác lƣu thông. Đ tiếp tục cho xe đi về phía trƣớc và tránh về bên trái nhƣng do Đ đã sử dụng rƣợu bia dẫn đến ảnh hƣởng khả năng xử lý tình huống và thiếu quan sát nên xe của Đ va chạm vào phần đui bên trái của xe ô tô đầu kéo làm cho Đ, K và xe của Đ ngã xuống đƣờng. Cùng thời điểm trên, phía sau cùng chiều xe của Đ có xe ô tô nhãn hiệu THACO, loại xe tải có mui, màu sơn xanh biển số 68C-078.47 do Nguyễn Văn T điều khiển chạy đến. Do bất ngờ thấy xe của Đ ngã nên T đạp phanh xe đồng thời đánh lái xe về bên trái để né. Tuy nhiên, phần đầu xe bên phải của xe ô tô tải vẫn móc vào ngƣời của K và xe chạy một đoạn khoảng 10 mét thì dừng lại. Tai nạn xảy ra làm ông K bị thƣơng nặng và tử vong trên đƣờng đi cấp cứu.
Tại bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 1150/KL-KTHS ngày 20/01/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang kết luận:
- Các kết quả chính: Sây sát da và bầm tụ máu vùng ngực kích thƣớc 21cm x 20cm; Tụ máu da cơ vùng ngực phải kích thƣớc 5,5cm x 3,3cm; Gãy cung trƣớc và cung bên xƣơng sƣờn số 2, 3, 4, 5 và 6 bên phải; Gãy cung bên xƣơng sƣờn số 4 bên trái; Tụ máu dập rách phổi phải, khoang màng phổi phải có chứa 200ml máu loãng; Ổ bụng có khoảng 100ml máu loãng; Vỡ gan phức tạp.
- Nguyên nhân chết: Sốc mất máu do đa chấn thƣơng.
Kết quả nồng độ cồn:
- Trần Kỳ Đ có nồng độ cồn trong máu là 72.49 mg/100ml máu (Kết quả xét nghiệm lúc 17 giờ 29 phút ngày 20/12/2021 tại bệnh viện đa khoa tỉnh Kiên Giang).
- Phan Văn K, Nguyễn Văn T và Huỳnh Tuấn K1 không có nồng độ cồn trong máu và hơi thở.
Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
-Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và tự nguyện bồi thƣờng thiệt hại về hành vi phạm tội do mình gây ra.
* Về vật chứng thu giữ trong vụ án:
Quá trình điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra đã thu giữ và trả lại cho chủ sở hữu gồm:
- Trả cho ông Phan Vũ Phi H: 01 xe ô tô nhãn hiệu FREIGHTLINER, số loại ST120064S, loại xe đầu kéo, màu sơn trắng, số máy 6E06R0941584, số khung BCK47LX07823, biển số 51D-479.66.
+ 01 Rơ moóc nhãn hiệu CIMC, màu sơn xanh, số khung 2398G2009472, biển số 51R-169.81.
+ 01 Chứng nhận đăng ký xe ô tô số 471199 do Phòng Cảnh sát giao thông Công an thành phố Hồ Chí minh cấp ngày 16/5/2019 cho CTTNHH MTV TVĐ TTMVVT PHƢƠNG LINH, địa chỉ 71 Nam Hòa P. Phƣớc Long A Q9 đăng ký xe ô tô biển số 51D-479.66.
+ 01 Chứng nhận đăng ký RƠ MOÓC, SƠMI RƠ MOÓC số 028143 do Phòng Cảnh sát giao thông Công an thành phố Hồ Chí minh cấp ngày 25/6/2019 cho CTTNHH MTV TVĐ TTMVVT PHƢƠNG LINH, địa chỉ 71 Nam Hòa P. Phƣớc Long A Q9 đăng ký RƠ MOÓC, biển số 51R-169.81.
+ 01 Giấy chứng nhận kiểm định số EA 0320842 do Trung tâm đăng kiểm xe cơ giới 50-15D, chi nhánh công ty TNHH LÂM HÀ TRÚC cấp ngày 30/11/2021 cho xe ô tô biển số 51D-479.66.
+ 01 Giấy chứng nhận kiểm định số KD 7030310 do Trung tâm đăng kiểm xe cơ giới số 50-04V cấp ngày 13/7/2021 cho sơ mi rơ moóc biển số 51R-169.81.
- Trả cho ông Nguyễn Việt H: 01 xe ô tô nhãn hiệu THACO, loại xe tải có mui, màu sơn xanh, số máy JT727520, số khung 00BKHC054711, biển số 68C-078.47.
+ Chứng nhận đăng ký xe ô tô số 015828 do Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Kiên Giang cấp ngày 19/12/2017 cho Nguyễn Việt H, địa chỉ Vàm R, Sơn Kiên, Hòn Đất, KG đăng ký xe ô tô biển số 68C-078.47.
+ Giấy chứng nhận kiểm định số EA 0409343 do Trung tâm đăng kiểm xe cơ giới Sở giao thông vận tải tỉnh Kiên Giang cấp ngày 13/12/2021 cho xe ô tô biển số 68C-078.47.
- Trả lại cho Nguyễn Văn T : 01 giấy phép lái xe số 930193008003 hạng C do Sở giao thông vận tải tỉnh Kiên Giang cấp ngày 14/11/2019 cho Nguyễn Văn Trà, sinh ngày 21/3/1990, nơi cƣ trú: X. Mong Thọ, H. Châu Thành, T. Kiên Giang.
- Trả lại cho Huỳnh Tuấn K1: 01 Giấy phép lái xe số 790162040465 hạnh FC do Sở giao thông vận tải thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 21/5/2020 cho Huỳnh Tuấn Khoa, sinh ngày 06/3/1990, nơi cƣ trú: X. Ân Nghĩa, H. Hoài Ân, T. Bình Định.
- Trả lại cho Trần Kỳ Đ: 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại AIR BLADE, màu xanh đen, số máy KF41E0108679, số khung RLHKF4104LZ603885, biển số 68S1-669.21 và 01 giấy Chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 68 000174 do Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Kiên Giang cấp ngày 04/01/2021 cho Trần Kỳ Đ, địa chỉ 204 Nguyễn Thị Định, Vĩnh Hiệp, Rạch giá đăng ký xe mô tô biển số 68S1-669.21.
Đối với một Giấy phép lái xe số AH218612 hạnh A1 do Sở giao thông vận tải tỉnh Kiên Giang cấp ngày 02/12/2008 cho Trần Kỳ Đ, sinh năm 1963, nơi cƣ trú: 7/161A KP Thông Chữ-TP. Rạch Giá tỉnh Kiên Giang hiện đang tạm giữ.
* Về trách nhiệm dân sự: Đại diện cho bị hại Phan Văn K đã nhận đƣợc bồi thƣờng của công Trần Kỳ Đ số tiền 10.000.000 đồng (Mƣời triệu đồng), nhận đƣợc hỗ trợ của ông Nguyễn Văn T số tiền 60.000.000 đồng (Sáu mƣơi triệu đồng) và Phan Vũ Phi H (chủ xe continer) số tiền 20.000.000 đồng (Hai mƣơi triệu đồng). Hiện đại diện phía bị hại không có yêu cầu gì thêm nên không xem xét.
Tại bản cáo trạng số: 11/CT- VKS-CT ngày 16/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang đã truy tố bị cáo Trần Kỳ Đ về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ” theo điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Trần Kỳ Đ phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ” và đề nghị HĐXX áp dụng điểm b khoản 2 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 và Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Kỳ Đ từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù nhƣng cho hƣởng án treo. Thời gian thử thách từ 04 năm đến 05 năm.
Về biện pháp tƣ pháp đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, xử trả lại một Giấy phép lái xe số AH218612 hạnh A1 do Sở giao thông vận tải tỉnh Kiên Giang cấp ngày 02/12/2008 cho Trần Kỳ Đ, sinh năm 1963, nơi cƣ trú: 7/161A KP Thông Chữ-TP. Rạch Giá tỉnh Kiên Giang.
Bị cáo, ngƣời đại diện gia đình bị hại không có ý kiến tranh luận về quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành.
Bị cáo đƣợc nói lời nói sau cùng, bị cáo xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Châu Thành, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiền hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình nhƣ bản Cáo trạng đã nêu, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, thể hiện:
Vào khoảng 13 giờ 50 phút ngày 20/12/2021, Trần Kỳ Đ điều khiển xe mô tô biển số 68S1-669.21 trong tình trạng trong tình trạng có sử dụng rƣợu bia (nồng độ cồn trong máu là 72.49 mg/100ml máu) chở ông Phan Văn Khuôl ngồi phía sau lƣu thông trên đƣờng Hành lan ven biển phía nam (đƣờng Võ Văn K) theo hƣớng cây xăng Nam Hƣng đi đƣờng cao tốc Lộ Tẻ - Rạch Sỏi, khi đến đoạn đƣờng thuộc ấp T, xã T, huyện T, tỉnh G do Đ thiếu quan sát và không xử lý đƣợc tình hƣớng nên đã là xe do Đ điều khiển va chạm vào phía sau bên trái xe continer đang đỗ cùng chiều phía trƣớc bên phải làm ông Phan Văn K ngã ra giữa đƣờng và va chạm vào xe ô tô tải biển số 68C-078.47 do Nguyễn Văn T điều khiển lƣu thông cùng chiều phía sau. Hậu quả làm Phan Văn K tử vong do sốc mất máu do đa chấn thƣơng.
Hành vi của Đ đã vi phạm vào khoản 8 Điều 8 Luật giao thông đƣờng bộ đƣợc sở đổi bổ sung theo Luật phòng, chống tác hại của rƣợu, bia năm 2019 “Điều khiển phƣơng tiện tham gia giao thông đƣờng bộ mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn” và khoản 23 Điều 8 Luật giao thông đƣờng bộ “Hành vi vi phạm quy tắc giao thông đƣờng bộ, hành vi khác gây nguy hiểm cho ngƣời và phƣơng tiện tham gia giao thông đƣờng bộ”.
Đồng thời căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự thì “Phạm tội thuộc một trong các trƣờng hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm: ...“ b) Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định hoặc có sử dụng chất ma túy hoặc các chất kích thích mạnh khác;...”;
Đối chiếu với các quy định nêu trên thì hành vi của bị cáo Trần Kỳ Đ đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ” nhƣ đã viện dẫn.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi đã gây ảnh hƣởng đến sự an toàn của hoạt động giao thông đƣờng bộ và gây ra hậu quả nghiêm trọng làm cho một ngƣời tử vong. Bản thân bị cáo nhận thức rỏ khi tham gia phƣơng tiện giao thông đƣờng bộ là không đƣợc uống rƣợu, bia và phải tuân thủ luật giao thông đƣờng bộ, nếu xảy ra tai nạn dù là lỗi vô ý nhƣng gây hậu quả nghiêm trọng sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Thế nhƣng khi điều khiển xe bị cáo trong tình trạng có sử dụng rƣợu bia, do trong ngƣời đã có nồng độ cồn, thiếu quan sát và không xử lý đƣợc tình hƣống nên đã làm xe do Đ điều khiển va chạm vào phía sau bên trái xe continer đang đỗ cùng chiều phía trƣớc bên phải làm ông Phan Văn K ngã ra giữa đƣờng và va chạm vào xe ô tô tải biển số 68C-078.47 do Nguyễn Văn T điều khiển lƣu thông cùng chiều phía sau. Chính sự chủ quan, thiếu ý thức khi tham gia giao thông của bị cáo đã gây ra hậu quả chết ngƣời và đây còn là nguyên nhân làm cho tình hình vi phạm tai nạn giao thông đƣờng bộ trên địa bàn Châu Thành nói chung và địa bàn nơi xảy ra vụ án nói riêng ngày càng gia tăng, gây tâm lý hoang mang, lo sợ cho ngƣời dân khi tham gia phƣơng tiện giao thông đƣờng bộ.
Xét về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng đƣợc quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
Xét về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa, bị cáo luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nhân thân bị cáo tốt chƣa có tiền án, tiền sự; đã tích cực khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại xong; Tại phiên tòa đại diện hợp pháp cho gia đình bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo đồng thời hoàn cảnh gia đình khó khăn nên cần xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo đƣợc quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét cho bị cáo khi lƣợng hình là phù hợp. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ đƣợc quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nên HĐXX sẽ áp dụng thêm khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự chuyển sang khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật để xem xét hình phạt cho bị cáo khi lƣợng hình là phù hợp.
Đồng thời bị cáo có nơi cƣ trú rỏ ràng nên HĐXX đối chiếu Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì bị cáo có đủ điều kiện để đƣợc áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự, không cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà để cho bị cáo tự thân học tập, cải tạo, giáo dục tại địa phƣơng cũng đủ nghiêm đồng thời cũng thể hiện chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nƣớc ta.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về việc định tội danh, khung hình phạt cũng nhƣ việc áp dụng các điều luật để xử lý vụ án là có căn cứ pháp luật nên HĐXX ghi nhận để xem xét.
Về trách nhiệm dân sự: Đại diện cho bị hại Phan Văn K đã nhận đƣợc bồi thƣờng của công Trần Kỳ Đ số tiền 10.000.000 đồng (Mƣời triệu đồng), nhận đƣợc hỗ trợ của ông Nguyễn Văn T số tiền 60.000.000 đồng (Sáu mƣơi triệu đồng) và Phan Vũ Phi H (chủ xe continer) số tiền 20.000.000 đồng (Hai mƣơi triệu đồng) và phía đại diện phía bị hại không có yêu cầu gì thêm nên HĐXX ghi nhận để xem xét.
Về đánh giá vật chứng, xử lý vật chứng:
Trong quá trình điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Thành đã xử lý:
- Trả cho ông Phan Vũ Phi H: 01 xe ô tô nhãn hiệu FREIGHTLINER, số loại ST120064S, loại xe đầu kéo, màu sơn trắng, số máy 6E06R0941584, số khung BCK47LX07823, biển số 51D-479.66.
+ 01 Rơ moóc nhãn hiệu CIMC, màu sơn xanh, số khung 2398G2009472, biển số 51R-169.81.
+ 01 Chứng nhận đăng ký xe ô tô số 471199 do Phòng Cảnh sát giao thông Công an thành phố Hồ Chí minh cấp ngày 16/5/2019 cho CTTNHH MTV TVĐ TTMVVT PHƢƠNG LINH, địa chỉ 71 Nam Hòa P. Phƣớc Long A Q9 đăng ký xe ô tô biển số 51D-479.66.
+ 01 Chứng nhận đăng ký RƠ MOÓC, SƠMI RƠ MOÓC số 028143 do Phòng Cảnh sát giao thông Công an thành phố Hồ Chí minh cấp ngày 25/6/2019 cho CTTNHH MTV TVĐ TTMVVT PHƢƠNG LINH, địa chỉ 71 Nam Hòa P. Phƣớc Long A Q9 đăng ký RƠ MOÓC, biển số 51R-169.81.
+ 01 Giấy chứng nhận kiểm định số EA 0320842 do Trung tâm đăng kiểm xe cơ giới 50-15D, chi nhánh công ty TNHH LÂM HÀ TRÚC cấp ngày 30/11/2021 cho xe ô tô biển số 51D-479.66.
+ 01 Giấy chứng nhận kiểm định số KD 7030310 do Trung tâm đăng kiểm xe cơ giới số 50-04V cấp ngày 13/7/2021 cho sơ mi rơ moóc biển số 51R-169.81.
- Trả cho ông Nguyễn Việt H: 01 xe ô tô nhãn hiệu THACO, loại xe tải có mui, màu sơn xanh, số máy JT727520, số khung 00BKHC054711, biển số 68C-078.47.
+ Chứng nhận đăng ký xe ô tô số 015828 do Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Kiên Giang cấp ngày 19/12/2017 cho Nguyễn Việt Hùng, địa chỉ Vàm Răng, Sơn Kiên, Hòn Đất, KG đăng ký xe ô tô biển số 68C-078.47.
+ Giấy chứng nhận kiểm định số EA 0409343 do Trung tâm đăng kiểm xe cơ giới Sở giao thông vận tải tỉnh Kiên Giang cấp ngày 13/12/2021 cho xe ô tô biển số 68C-078.47.
- Trả lại cho Nguyễn Văn T: 01 giấy phép lái xe số 930193008003 hạng C do Sở giao thông vận tải tỉnh Kiên Giang cấp ngày 14/11/2019 cho Nguyễn Văn Trà, sinh ngày 21/3/1990, nơi cƣ trú: X. Mong Thọ, H. Châu Thành, T. Kiên Giang.
- Trả lại cho Huỳnh Tuấn K1: 01 Giấy phép lái xe số 790162040465 hạnh FC do Sở giao thông vận tải thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 21/5/2020 cho Huỳnh Tuấn K1, sinh ngày 06/3/1990, nơi cƣ trú: X. Ân Nghĩa, H. Hoài Ân, T. Bình Định.
- Trả lại cho Trần Kỳ Đ: 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại AIR BLADE, màu xanh đen, số máy KF41E0108679, số khung RLHKF4104LZ603885, biển số 68S1-669.21 và 01 giấy Chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 68 000174 do Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Kiên Giang cấp ngày 04/01/2021 cho Trần Kỳ Đƣợc, địa chỉ 204 Nguyễn Thị Định, Vĩnh Hiệp, Rạch giá đăng ký xe mô tô biển số 68S1-669.21
Xét thấy Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Thành đã xử lý trả lại tài sản cho các chủ sở hữu là phù hợp theo quy định của pháp luật nên HĐXX không xem xét.
[8.2.] Đối với một Giấy phép lái xe số AH218612 hạnh A1 do Sở giao thông vận tải tỉnh Kiên Giang cấp ngày 02/12/2008 cho Trần Kỳ Đƣợc, sinh năm 1963, nơi cƣ trú: 7/161A KP Thông Chữ-TP. Rạch Giá tỉnh Kiên Giang hiện nay đang tạm giữ, xét thấy cần thiết trả lại Trần Kỳ Đ theo quy định pháp luật.
Về án phí: Xử buộc bị cáo phải có nghĩa vụ nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về điều luật áp dụng và tội danh: Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 và Điều 65 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Trần Kỳ Đ phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Kỳ Đ 02 (hai) năm tù nhƣng cho hƣởng án treo. Thời gian thử thách là 04 (bốn) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Trần Kỳ Đ cho Ủy ban nhân dân phƣờng H, thành phố G, tỉnh G giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
“Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.
3. Về biện pháp tƣ pháp: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, xử: trả lại 01 Giấy phép lái xe số AH218612 hạnh A1 do Sở giao thông vận tải tỉnh Kiên Giang cấp ngày 02/12/2008 cho Trần Kỳ Đ, sinh năm 1963, nơi cƣ trú: 7/161A KP Thông Chữ-TP. Rạch Giá tỉnh Kiên Giang cho Trần Kỳ Đ.
Vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang đang quản lý theo quyết định chuyển giao vật chứng số: 08/QĐ-VKS-CT ngày 16/01/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện huyện Châu Thành.
4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 135, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Trần Kỳ Đ phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo và ngƣời đại diện hợp pháp cho gia đình bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Kiên Giang; - Sở tƣ pháp tỉnh Kiên Giang; - VKSND huyện Châu Thành; - Công An huyện Châu Thành; - Chi cục THADS huyện Châu Thành; - Bị cáo; NĐTPLCGĐBH; - Lƣu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ Tọa phiên Tòa Nguyễn Thanh Phong |