- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vàng Thị S - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Vàng Thị S; Phà Thị D phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LAI CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 10/2023/HS-PT Ngày 21 -6- 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Ngọc Bính.
Các Thẩm phán: Ông Vũ Đức Long, ông Đỗ Mạnh Trang.
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Văn Cường – Thư ký TAND tỉnh Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Khánh - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 21/2023/TLPT-HS ngày 19 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo Vàng Thị S và bị cáo Phà Thị D do có kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Lai Châu đối với Bản án Hình sự sơ thẩm số 56/2023/HS-ST ngày 14 tháng 4 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Lai Châu.
- Các bị cáo bị kháng nghị:
1.Vàng Thị S - Sinh ngày 01/01/1992 tại huyện M, tỉnh Yên Bái. Nơi cư trú: Bản N, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Dân tộc: Mông; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông: Vàng A T (đã chết) và bà: Sùng Thị M – sinh năm 1965; Gia đình có 3 chị, em bị cáo là con thứ ba; Bị cáo có chồng: Vừ A K – sinh năm 1984; Bị cáo có 04 con; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ hồi 18 giờ 20 phút ngày 17/11/2022, tạm giam ngày 26/11/2022, hiện bị cáo đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện T. (Có mặt)
2.Phà Thị D - Sinh ngày 13/01/1967 tại huyện V, tỉnh Lào Cai. Nơi cư trú: Bản N, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Dân tộc: Mông; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không Con ông: Phà A H và bà: Vàng Thị S (đều đã chết); Gia đình có 6 chị, em bị cáo là con thứ sáu; Bị cáo có chồng 1: Giàng A V (đã chết), chồng 2: Thào A C – sinh năm 1965; Bị cáo có 06 con; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ hồi 15 giờ 15 phút ngày 17/11/2022, tạm giam ngày 26/11/2022, hiện bị cáo đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện T. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Buổi sáng ngày 15/11/2022, Vàng Thị S đang một mình đi bộ trong bản N, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu thì gặp một người phụ nữ không rõ lai lịch. Qua nói chuyện, S đã mua của người phụ nữ đó 01 gói Heroine với giá 500.000 đồng. Sau đó, S mang gói Heroine về nhà tại bản N, xã P, huyện T cất giấu trong bao gạo, không cho ai biết, mục đích để bán. Đến buổi trưa ngày 17/11/2022 (bị can không nhớ rõ thời gian), Vàng Thị S đang ở nhà mình thì có Phà Thị D đến nhà S hỏi mua Heroine. D đưa cho S 1.000.000 đồng, S cầm tiền rồi lấy gói Heroine đã mua được trước đó, bẻ lấy một ít bán cho Phà Thị D. Mua bán xong, S cất giấu gói Heroine còn lại vào trong bao gạo còn Phà Thị D cầm gói Heroine vừa mua được mang về nhà, mục đích: để sử dụng và bán.
Theo Phà Thị D khai nhận: Sau khi mua được Heroine của Vàng Thị S, Phà Thị D đi đến bụi tre trong bản N, xã P, huyện T lấy gói Heroine vừa mua được, cấu một ít sử dụng. Khi D vừa sử dụng Heroine thì gặp 02 người đàn ông không rõ lai lịch, một người hỏi D mua Heroine và đưa cho D 01 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng. D lấy gói Heroine mua của S ra, dùng dao lam cắt lấy 02 phần, gói lại bằng mảnh nilon màu xanh thành 02 gói và bán cho người đàn ông đó. Hai người đàn ông cùng nhau sử dụng số Heroine mua được của D. Sau đó, Phà Thị D cầm gói Heroine còn lại trên tay phải và đi về nhà thì bị bắt quả tang hồi 14 giờ 20 phút ngày 17/11/2022 tại bản N, xã P, huyện T. Vật chứng thu giữ tại tay phải của Phà Thị D 01 gói bên Heroine, ngoài gói bằng nilon màu xanh và số tiền 200.000 đồng.
Cơ quan điều tra tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp và khám xét khẩn cấp đối với Vàng Thị S. Quá trình giữ người, thu giữ số tiền 1.000.000 đồng do S bán Heroine cho D mà có. Quá trình khám xét khẩn cấp, thu giữ trong bao gạo tại nhà bếp của Vàng Thị S 01 gói Heroine được gói bằng nilon màu xanh.
Tại các kết luận giám định số: 119, 120 cùng ngày 17/11/2022 của người giám định tư pháp theo vụ việc thuộc Công an huyện T và Kết luận giám định số 863/KL-KTHS ngày 21/11/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận:
+ Số chất bột màu trắng thu giữ của Phà Thị D có khối lượng: 1,62 gam; là ma túy, loại: Heroine.
+ Số chất bột màu trắng thu giữ của Vàng Thị S có khối lượng: 2,22 gam; là ma túy, loại: Heroine.
Tại kết luận giám định số 965/KL-KTHS ngày 21/11/2022 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận: Số tiền 200.000 đồng thu giữ của Phà Thị D và số tiền 1.000.000 đồng thu giữ của Vàng Thị S gửi đến giám định là tiền thật.
Tại bản án Hình sự sơ thẩm số 56/2023/HS-ST ngày 14/4/2023 của TAND huyện T, tỉnh Lai Châu đã quyết định: Tuyên bố các bị cáo Vàng Thị S và bị cáo Phà Thị D phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”
- Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Vàng Thị S 26 (hai mươi sáu) tháng tù và xử phạt bị cáo Phà Thị D 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 17/11/2022.
Ngoài ra, Tòa cấp sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 25/4/2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện T có Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 01/QĐ-VKS và Quyết định bổ sung Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 02/QĐ-VKS ngày 28/4/2023.
Tại phiên tòa phúc thẩm, Viện kiểm sát tỉnh Lai Châu giữ nguyên nội dung kháng nghị. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu trình bày quan điểm giải quyết vụ án: Đối với kháng nghị Viện kiểm sát nhân dân huyện T với bản án sơ thẩm số 56/2023/HS-ST ngày 14/4/2023 của TAND huyện T, tỉnh Lai Châu. Sau khi phân tích, đánh giá tính chất hành vi phạm tội, về nhân thân, cũng như các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, thấy rằng cấp sơ thẩm quy kết bị cáo S và bị cáo D về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên với mức hình phạt cấp sơ thẩm áp dụng đối với các bị cáo cụ thể: xử phạt bị cáo Vàng Thị S 26 tháng tù; bị cáo Phà Thị D 02 năm tù là không tương xứng với mức độ và tính nguy hiểm cho xã hội về hành vi phạm tội của các bị cáo. Do đó không thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật. Đề nghị HĐXX phúc thẩm áp dụng Điều 355; Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự sửa bản án sơ thẩm số 56/2023/HS-ST ngày 14/4/2023 của TAND huyện T, tỉnh Lai Châu tăng nặng hình phạt đối với các bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Khoản 1 Điều 50 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Phà Thị D từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù, xử phạt bị cáo Vàng Thị S từ 04 năm 06 tháng đến 05 năm tù.
Tại lời nói sau cùng, các bị cáo Vàng Thị S và Phà Thị D xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Sau xét xử sơ thẩm Viện kiểm sát huyện T có Quyết định kháng nghị nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Về nội dung: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm cũng như tại phiên tòa phúc thẩm ngày hôm nay, lời khai nhận tội của các bị cáo đều phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để khẳng định: Sáng ngày 15/11/2022, tại bản N, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu, Vàng Thị S đã mua trái phép 01 gói Heroine với giá 500.000 đồng của một người không quen biết, mục đích để bán kiếm lời. Đến buổi trưa ngày 17/11/2023, Vàng Thị S đã bán trái phép 01 gói Heroine cho Phà Thị D lấy số tiền 1.000.000 đồng. Mua được Heroine, Phà Thị D cầm gói Heroine trên tay phải mang về, mục đích để sử dụng và bán thì bị lực lượng Công an huyện T phát hiện, bắt quả tang. Vật chứng thu giữ của Phà Thị D 01 gói Heroine có khối lượng 1,62 gam và 200.000 đồng (D khai là tiền bán Heroine). Cơ quan điều tra tiến hành giữ người và khám xét khẩn cấp đối với Vàng Thị S thu giữ tại bao gạo trong nhà S 01 gói Heroine có khối lượng 2,22 gam và số tiền 1.000.000 đồng do S bán Heroine cho D mà có.
Xem xét nội dung kháng nghị của Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử thấy rằng: Khi xét xử, cấp sơ thẩm đánh giá chưa đúng với mức độ, tính nguy hiểm cho xã hội do hành vi phạm tội mà các bị cáo gây ra; Theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự quy định về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” có mức hình phạt từ 02 năm đến 07 năm và khối lượng ma túy tối thiểu dưới 0,1 gam (có khối lượng) cho đến tối đa là dưới 05 gam. Trong vụ án này bản thân các bị cáo đều mua về với mục đích vừa để sử dụng và vừa để bán, do vậy cấp sơ thẩm quy kết các bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên, với khối lượng Heroine mà bị cáo Vàng Thị S phải chịu trách nhiệm là 3,84 gam (2,22 gam + 1,62 gam); Khối lượng Heroine mà bị cáo Phà Thị D phải chịu trách nhiệm là 1,62 gam. Sau khi đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ hình phạt được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 đối với từng bị cáo cấp sơ thẩm tuyên phạt bị cáo Phà Thị D 02 năm tù, tuyên phạt bị cáo Vàng Thị S 02 năm 02 tháng tù là không phù hợp với tình chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, không thể hiện được tính nghiêm minh của pháp luật và không thể hiện được tính răn đe, cải tạo, giáo dục đối với người phạm tội. Các căn cứ pháp luật áp dụng so với mức hình phạt là không thuyết phục. Do vậy, kháng nghị 01/QĐ-VKS và Quyết định bổ sung Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 02/QĐ-VKS ngày 28/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện T về tăng mức hình phạt đối với các bị cáo Vàng Thị S và Phà thị D là hoàn toàn có căn cứ. Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, vị Đại diện viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tăng mức hình phạt đối với cả hai bị cáo, đề nghị xử phạt bị cáo Vàng Thị S từ 04 năm 06 tháng đến 05 năm tù; Xử phạt bị cáo Phà Thị D từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù. Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ, cần chấp nhận.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Về án phí: Căn cứ Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điểm a khoản 2 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát huyện T. Sửa một phần bản án hình sự sơ thẩm số: 56/2023/HS-ST ngày 14 tháng 4 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Lai Châu, như sau:
1. Tuyên bố các bị cáo Vàng Thị S; Phà Thị D phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”
Áp dụng: khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Khoản 1 Điều 50 Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Vàng Thị S 04 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 17/11/2022
Xử phạt bị cáo Phà Thị D 03 năm tù. thời hạn tù tính từ ngày 17/11/2022.
2. Về án phí: Áp dụng Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số: 56/2023/HS-ST ngày 14 tháng 4 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Lai Châu không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh; - Tòa án, VKS, Công an, chi cục THADS huyện T; - Các bị cáo; - Lưu. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Ngọc Bính |