vanban.org

Bản án 10/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Cao Thị H đối với bị đơn ông Võ Văn B về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Cao Thị H được ly hôn với ông Võ Văn B. 2. Về con chung: Giao con chung là Võ Thị Thảo M, sinh ngày 18/4/2019 cho bà Cao Thị H được quyền trực tiếp nuôi. Giao con chung là Võ Nhật N, sinh ngày 12/6/2012 cho ông Võ Văn B được quyền trực tiếp nuôi.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Cao Thị H đối với bị đơn ông Võ Văn B về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ TÂN UYÊN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 10/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 16-02-2023
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Trung

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Văn Châu

2. Bà Phạm Đỗ Huệ Tâm

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thuyến - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên tham gia phiên tòa: Bà Bồ Thị Hồng - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở, Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 271/2022/TLST-HNGĐ ngày 01/11/2022 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 91/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 12 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Cao Thị H, sinh năm 1983. (vắng mặt và có yêu cầu giải quyết vắng mặt)

- Bị đơn: Ông Võ Văn B, sinh năm 1979.

Cùng địa chỉ thường trú: Ấp A, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang; chỗ ở hiện nay: Tổ X, khu phố K, phường T, thị xã T, tỉnh Bình Dương. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Nguyên đơn trình bày:

Bà Cao Thị H và ông Võ Văn B tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang, được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 37, ngày 01/6/2015.

Trong quá trình chung sống, hai vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, tranh cãi không thể giải quyết được. Nguyên nhân do hai vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có sự tôn trọng lẫn nhau, ông B không lo làm ăn chăm sóc cho gia đình, vợ con mà thường xuyên uống rượu bia say xỉn về quấy phá vợ con. Từ khi kết hôn đến khi bà H sinh 02 con thì ông B cũng không hề quan tâm, chăm sóc, hỏi thăm, hai vợ chồng đi làm thì tự ai lo cho người đó. Ông B thường uống rượu bia say rồi về đánh bà H, đỉnh điểm là ngày 03/10/2022, ông B đánh bà H phải nhập viện. Từ đó đến nay, bà H lo sợ ông B có hành vi ảnh hưởng đến sức khoẻ, tính mạng của bà H nên bà H đã phải chuyển đi nơi khác sinh sống. Hai vợ chồng đã không còn chung sống, không còn tình cảm, không thể hàn gắn nên bà H yêu cầu ly hôn với ông B.

Về con chung: Bà Cao Thị H và ông Võ Văn B có 02 con chung là Võ Nhật N, sinh ngày 12/6/2012 và Võ Thị Thảo M, sinh ngày 18/4/2019. Bà Cao Thị H yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung là Võ Thị Thảo M, ông B được nuôi con chung là Võ Nhật N, không yêu cầu ông Võ Văn B cấp dưỡng nuôi con.

Hiện nay, bà H có công việc và nơi ở ổn định, bà H làm công nhân Công ty AC Cook, với mức lương hàng tháng khoảng 10 triệu đồng nên có đủ điều kiện để nuôi con. Ông B làm công việc sửa đồng hồ, thu nhập chỉ đủ lo sinh hoạt cá nhân nên không thể chăm lo cho cả hai con.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình thụ lý, chuẩn bị xét xử, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn ông Võ Văn B nhưng ông B không đến Tòa án tham gia tố tụng, không gửi văn bản có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Cao Thị H vắng mặt và có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Bị đơn ông Võ Văn B thừa nhận giữa hai vợ chồng có xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do bà H không lo làm ăn, không quan tâm chăm sóc gia đình, chồng con mà chỉ lo ăn chơi, bỏ bê con cái. Tuy nhiên, ông B xác định vẫn còn thương yêu vợ con nên không đồng ý ly hôn. Trường hợp giải quyết ly hôn thì ông B yêu cầu được trực tiếp nuôi 02 con, không yêu cầu bà H cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung thì ông B không yêu cầu Toà án giải quyết.

- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

+ Về tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi khai mạc phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Thư ký đã tiến hành tố tụng đúng quy định của pháp luật. Vụ án được đưa ra xét xử đúng thời hạn theo quy định tại Điều 203 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đầy đủ thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định tại chương XIV về phiên tòa sơ thẩm. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ được quy định tại theo các Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ được quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự. Những yêu cầu, kiến nghị để khắc phục vi phạm về tố tụng: Không có.

+ Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ hồ sơ vụ án, các tài liệu chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhận thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Bà Cao Thị H khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Võ Văn B và yêu cầu được trực tiếp nuôi con. Tại thời điểm thụ lý vụ án, bị đơn ông Võ Văn B đang cư trú tại thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Cao Thị H vắng mặt và có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Vì vậy, căn cứ vào Điều 227, Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà H.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Ngày 01/6/2015, bà Cao Thị H và ông Võ Văn B tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang nên quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông B là hợp pháp theo quy định tại Điều 8 và Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Xét thấy, bà H xác định giữa hai vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, tranh cãi không thể giải quyết được. Nguyên nhân do hai vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có sự tôn trọng lẫn nhau, ông B không lo làm ăn chăm sóc cho gia đình, vợ con mà thường xuyên uống rượu bia say xỉn về quấy phá vợ con. Từ khi kết hôn đến khi bà H sinh 02 con thì ông B cũng không hề quan tâm, chăm sóc, hỏi thăm, hai vợ chồng đi làm thì tự ai lo cho người đó. Ông B thường uống rượu bia say rồi về đánh bà H, đỉnh điểm là ngày 03/10/2022, ông B đánh bà H phải nhập viện. Từ đó đến nay, bà H lo sợ ông B có hành vi ảnh hưởng đến sức khoẻ, tính mạng của bà H nên bà H đã phải chuyển đi nơi khác sinh sống. Hai vợ chồng đã không còn chung sống, không còn tình cảm, không thể hàn gắn. Ông Võ Văn B cũng thừa nhận giữa hai vợ chồng có xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do bà H không lo làm ăn, không quan tâm chăm sóc gia đình, chồng con mà chỉ lo ăn chơi, bỏ bê con cái. Xét thấy, bà H và ông B đều xác định giữa hai vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, phía bà H cũng như ông B đều không có biện pháp hay hành động nào nhằm hàn gắn quan hệ vợ chồng, từ tháng 10/2022 đến nay thì bà H và ông B cũng không còn chung sống, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Như vậy, có đủ cơ sở khẳng định, hôn nhân giữa bà H và ông B đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn của bà H là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 56 luật Hôn nhân và Gia đình.

[2.2] Về con chung: Quá trình chung sống, bà Cao Thị H và ông Võ Văn B có 02 con chung là Võ Nhật N, sinh ngày 12/6/2012 và Võ Thị Thảo M, sinh ngày 18/4/2019. Bà Cao Thị H yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung là Võ Thị Thảo M, đồng ý để ông B được nuôi con chung là Võ Nhật N, không yêu cầu ông Võ Văn B cấp dưỡng nuôi con. Ông B yêu cầu được trực tiếp nuôi 02 con chung. Xét thấy, cháu M mới hơn 03 tuổi và là con gái nên cần có sự quan tâm, chăm sóc trực tiếp của người mẹ và hiện đang sống chung với bà H, cháu N là con trai có nguyện vọng sống chung và hiện đang ở chung với ông B nên để ông B trực tiếp nuôi. Do đó, yêu cầu của bà H là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình nên có cơ sở chấp nhận.

[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[2.4] Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[3] Quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên là phù hợp.

[4] Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bà Cao Thị H phải nộp số tiền 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 227, 228, 238, 266, 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ các Điều 51, 53, 56, 57, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Cao Thị H đối với bị đơn ông Võ Văn B về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

1.1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Cao Thị H được ly hôn với ông Võ Văn B.

1.2. Về con chung: Giao con chung là Võ Thị Thảo M, sinh ngày 18/4/2019 cho bà Cao Thị H được quyền trực tiếp nuôi. Giao con chung là Võ Nhật N, sinh ngày 12/6/2012 cho ông Võ Văn B được quyền trực tiếp nuôi.

1.3. Về cấp dưỡng nuôi con: Các đương sự không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Vì lợi ích hợp pháp của con chung, khi đương sự có yêu cầu Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người đang trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

1.4. Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

2. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Cao Thị H phải chịu số tiền 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng), được khấu trừ vào số tiền đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số AA/2021/0006405 ngày 27/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Uyên.

3. Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ