- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hồng - Vinh"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Đỗ Thị Kim H
- Căn cứ chính? Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP Của Hội đồng Thẩm phán Toà án…; Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 10 /2023/HNGĐ-ST Ngày 09-02-2023 V/v tranh chấp “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Sắc Ly.
Các Hội thẩm nhân nhân dân:
Ông Võ Thành Nhân.
Bà Lê Thị Bé Bảy.
- Th ký phiên tòa: Ông Phạm Nhật Minh - Th ký Tòa án của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Cẩm Thuý - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 02 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 486/2022/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2022 về tranh chấp “Ly hôn”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 01 năm 2023, giữa các đương sự:
-Nguyên đơn: Đỗ Thị Kim H, sinh năm 1988 (có mặt).
Địa chỉ: M , phường B, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.
-Bị đơn: Trần Quốc V, sinh năm 1989 (có mặt).
Địa chỉ: M , phường B, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Đỗ Thị Kim H trình bày:
Chị và anh V quen biết nhau và quyết định đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường 7, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang vào năm 2018. Cuộc sống vợ cH thời gian đầu hạnh phúc đến giữa năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh V không lo làm ăn, gây nợ nần và nhiều lần đánh chị. Cả hai đã cố hàn gắn nhiều lần nhưng không có kết quả. Đã ly thân từ tháng 4/2022. Nhận thấy,tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên làm đơn yêu cầu Tòa án xem xét:
- Về hôn nhân: Chị Đỗ Thị Kim H yêu cầu được ly hôn với anh Trần Quốc V.
- Về con chung: Có 01 con chung tên Trần Ngọc Anh Th, sinh ngày 02/9/2018, hiện đang sống với chị. Yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con. Hiện chị làm công nhân ổn định, thu nhập khoảng 6 triệu trên tháng. Hàng ngày chị đi làm thì đem con gửi trường, chiều chị làm về thì rước cháu về chăm sóc. Hiện cha mẹ chị có cho chị và con ngôi nhà để chị và con ở, không phải đóng tiền thuê trọ.
- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn Trần Quốc V trình bày:
- Về hôn nhân: Không đồng ý ly hôn với chị H vì có con chung còn nhỏ.
- Về con chung: Có 01 con chung tên Trần Ngọc Anh Th, sinh ngày 02/9/2018. Không đồng ý cho chị H nuôi dưỡng con chung. Anh yêu cầu được trực tiếp nuôi con, không yêu cầu cấp dưỡng. Anh có hộ khẩu ở phường 7, chung với mẹ và anh ruột. Hiện anh đang thuê nhà ở trọ ở Trung Lương do có thiếu nợ riêng nên không ở nhà, đến khi anh trả hết nợ thì sẽ dọn về nhà của cô ruột ở không phải thuê trọ vì trước đây anh cũng ở nhà cô anh. Chị H thì có cha mẹ cho nhà để ở cũng không có thuê trọ. Thu nhập chính của anh là buôn bán bắp rang ở Mỹ Tho, tháng khoản 10 triệu.
- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa:
Chị Đỗ Thị Kim H, giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Anh Trần Quốc V chỉ đồng ý ly hôn khi anh được quyền nuôi con. Yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản và nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Th ký tòa án, Hội đồng xét xử và các đương sự từ khi thụ lý vụ án cho đến thời điểm Hội đồng xét xử chuẩn bị nghị án đều đúng theo trình tự do Bộ luật tố tụng quy định.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đại diện Viện kiểm sát cho rằng yêu cầu khởi kiện của chị Đỗ Thị Kim H là có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đỗ Thị Kim H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi thẩm tra xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nghe lời trình bày, tranh luận của đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Chị Đỗ Thị Kim H và anh Trần Quốc V kết hôn trên cơ sở tự nguyện. Được Ủy ban nhân dân phường 7, thành phố Mỹ Tho cấp giấy chứng nhận kết hôn năm 2018. Ngày 03/10/2022 chị H khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh V, xác định đây là tranh chấp ly hôn được quy định tại Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Hình thức và nội dung đơn khởi kiện đúng quy định tại Điều 189 Bộ luật tố tụng dân sự. Anh Trần Quốc V cư trú tại phường 7, thành phố Mỹ Tho, Tiền Giang, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho.
Về quan hệ hôn nhân: Chị H yêu cầu ly hôn với anh V vì cho rằng vợ cH Thờng bất đồng quan điểm sống, mâu thuẫn về kinh tế, vợ cH Thờng xuyên cãi vã. Nhiều lần hàn gắn tình cảm nhưng không có kết quả. Đã ly thân từ tháng 4/2022 đến nay. Anh Trần Quốc V chỉ đồng ý ly hôn nếu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Tại phiên tòa, chị H đã được giải thích về hậu quả của việc ly hôn, nhưng vẫn cương quyết yêu cầu được ly hôn với anh V. Phía anh V cũng không đưa ra được giải pháp và phương hướng cụ thể để hàn gắn tình cảm với chị H. Hội đồng xét xử thấy rằng, hôn nhân phải dựa trên cơ sở tự nguyện của hai bên, căn cứ theo qui định tại mục 8 Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000, cho thấy đời sống vợ cH giữa chị H và anh V đã mâu thuẩn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H.
Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân anh chị có 01 con chung tên Trần Ngọc Anh Th, sinh ngày 02/9/2018. Chị H yêu cầu sau khi ly hôn được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung, không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con chung. Anh V yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung, không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con chung.
Xét thấy, cháu Trần Ngọc Anh Th là con gái, hiện nay còn nhỏ, đang sống cùng với chị H, cháu đang đi học và phát triển bình Thờng. Phía anh V yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Th nhưng hiện nay chưa có việc làm cũng như nơi ở ổn định. Để đảm bảo cho sự phát triển toàn diện của cháu cần giao cháu cho mẹ là chị H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con do chị H không có yêu cầu.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về nợ chung: Không ai yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị Đỗ Thị Kim H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 91, 92, 147, 227, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 51, 56, 131 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 30/12/2016 của Ủy ban Thờng vụ Quốc Hội.
Xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Đỗ Thị Kim H
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Đỗ Thị Kim H được ly hôn với anh Trần Quốc V.
- Về con chung: Giao cháu Trần Ngọc Anh Th, sinh ngày 02/9/2018 cho chị Đỗ Thị Kim H trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng. Anh Trần Quốc V không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Đỗ Thị Kim H không yêu cầu.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền được thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản.
- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Về án phí: Chị Đỗ Thị Kim H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm. Chị H đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0022648 ngày 03/10/2022 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Mỹ Tho, nên xem như đã nộp xong án phí.
3. Về quyền kháng cáo: Chị Đỗ Thị Kim H, anh Trần Quốc V có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND TP Mỹ Tho; - Chi cục THADS TP Mỹ Tho; - UBND phường B; - Đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án.07 | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Phạm Thị Sắc Ly |