- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "LÒ THỊ HẰNG - LƯỜNG THỊ PHƯƠNG"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lò Thị H.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự HĐXX; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN BIÊN ––––––––––––––– Bản án số: 10/2023/HNGĐ-ST Ngày: 23 - 3 - 2023 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Huệ
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Hoàng Thị Thái
2. Bà Lò Thị Hiền
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thương Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị Thu Hằng - Kiểm sát viên.
ơ
Ngày 23 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên. Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 10/2022/TLST - HNGĐ ngày 12 tháng 10 năm 2022 về Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2023/QĐXXST- HNGĐ ngày 10 tháng 02 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 08/2023/QĐST - HNGĐ ngày 08 tháng 3 năm 2023, Thông báo về việc mở lại phiên tòa số 01/TB-TA ngày 09/3/2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Lò Thị H; Nơi ĐKHKTT: Bản P, phường N, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên; Chỗ ở hiện nay: Đội X, xã Th, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. (Có mặt)
2. Bị đơn: Ông Lường Văn Ph; Địa chỉ: Bản P, phường N, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Tại đơn khởi kiện đề ngày 24/8/2022, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Tôi và anh Lường Văn P kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường N, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên vào ngày 05/3/2018 trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến khi tôi sinh cháu đầu thì phát hiện anh Ph chơi bời đi theo bạn bè xấu, không quan tâm đến vợ con nên vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, tôi đã khuyên bảo nhưng anh Ph không nghe. Ngoài ra, do tính tình vợ chồng không hợp, quan điểm sống bất đồng nên tình cảm vợ chồng không còn. Hiện vợ chồng đã ly thân từ tháng 7/2022 cho đến nay và không còn yêu thương, quan tâm, chia sẻ gì với nhau nữa, vì vậy tôi có nguyện vọng được ly hôn với anh Ph.
- Về con chung: Tôi và anh Ph có một con chung là Lường Ngọc Th – sinh ngày 02/8/2018 hiện cháu khỏe mạnh phát triển bình thường. Nguyện vọng của tôi là được chăm sóc, nuôi dưỡng cháu vì cháu là con gái và còn nhỏ. Tôi không yêu cầu anh Ph cấp dưỡng nuôi con chung. Tôi có việc làm và thu nhập ổn định nên có đủ điều kiện để nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết;
2. Đối với bị đơn: Ông Lường Văn Ph không trả lời thông báo thụ lý vụ án, không cung cấp tài liệu chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, vắng mặt không có lý do tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như phiên tòa.
3. Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án Thẩm phán, HĐXX, thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (sau đây viết tắt là BLTTDS).
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định tại Điều 70, 71/BLTTDS. Bị đơn không thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định tại Điều 70, 72/BLTTDS.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Căn cứ vào khoản 1 điều 28, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân gia đình:
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lò Thị H về việc ly hôn với ông Lường Văn Ph.
- Về con chung: Giao cháu Lường Ngọc Th - sinh ngày 02/8/2018 cho bà H chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi thành niên hoặc cho đến khi có thay đổi khác.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Việc người trực tiếp nuôi con có thể thay đổi nếu các bên có thỏa thuận hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Bà H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Những yêu cầu, kiến nghị để khắc phục vi phạm tố tụng ở giai đoạn sơ thẩm: Không.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thẩm quyền xét xử: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn với bị đơn có nơi cư trú tại phường N, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về thủ tục tố tụng:
- Trong quá trình giải quyết vụ án do Tòa án đã tiến hành biện pháp thu thập chứng cứ là Lấy lời khai của đương sự nên thông báo cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp để cử kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
- Về việc vắng mặt đương sự: Ngày 15/02/2023 bị đơn ông Lường văn Ph đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất, vắng mặt không có lý do, căn cứ vào khoản 1 Điều 227 HĐXX đã ban hành Quyết định hoãn phiên toà. Ngày 09/3/2023 ông Lường văn Ph đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, vắng mặt không có lý do, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân:
Căn cứ vào Trích lục kết hôn số 156 ngày 23/8/2022 của UBND nơi thực hiện việc đăng ký kết hôn cùng lời khai của nguyên đơn, có căn cứ xác định: Bà H và ông Ph có đăng ký kết hôn tại UBND phường N, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên vào ngày 05/3/2018 là hôn nhân hợp pháp.
Về nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng:
Quá trình giải quyết nguyên đơn cho rằng nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn là do vợ chồng ông Ph không quan tâm đến vợ con, tính tình vợ chồng không hợp, quan điểm sống bất đồng.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án cho bị đơn. Tuy nhiên, ông Ph không có ý kiến trả lời, không cung cấp tài liệu, chứng cứ để bảo vệ cho quyền và lợi ích hợp pháp của mình, vắng mặt tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như phiên tòa không có lý do. Đây thể hiện sự không thiện chí trong việc hòa giải để hàn gắn mâu thuẫn vợ chồng, tự từ bỏ quyền và nghĩa vụ của mình của bị đơn.
Do đó có căn cứ về việc bà H và ông Ph đã sống ly thân, hiện không còn quan tâm gì đến nhau, đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng (nghĩa vụ yêu thương, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc nhau...) làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện và giải quyết cho bà H được ly hôn với ông Ph.
Về con chung:
Bà H và ông Ph có một con chung là cháu Lường Ngọc Th - sinh ngày 02/8/2018, hiện cháu ở cùng bà nội. Thu nhập của bà Hằng là 5.000.000 đồng/tháng, đủ để trang trải cuộc sống và nuôi con. Xét thấy nguyện vọng được nuôi con của bà H là chính đáng và việc giao cháu Th là con gái, hiện còn nhỏ cần sự chăm sóc của người mẹ cho bà H là phù hợp, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên. Do đó, căn cứ vào Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu giải quyết về con chung của bà H.
Về cấp dưỡng nuôi con: Việc bà H không yêu cầu ông Ph cấp dưỡng nuôi con là hoàn toàn tự nguyện nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về tài sản chung: Do đương sự không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xem xét, giải quyết.
Về nợ chung: Do đương sự không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xem xét, giải quyết.
Từ những phân tích trên, các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên được chấp nhận.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lò Thị H.
1. Về hôn nhân: Bà Lò Thị H được ly hôn với ông Lường Văn Ph.
2. Về con chung: Bà Lò Thị H được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Lường Ngọc Th - sinh ngày 02/8/2018 cho đến khi cháu đủ 18 tuổi hoặc cho đến khi có thay đổi khác. Bà H không yêu cầu ông Ph cấp dưỡng nuôi con chung.
Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn; Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn; Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ trực tiếp nuôi con đối với người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn; Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.
3. Về tài sản chung và nợ: Không xem xét giải quyết.
4. Về án phí: Bà Lò Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0002026 ngày 07/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên (Bà H đã nộp đủ tiền án phí).
5. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (23/3/2023). Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì các đương sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân TP ĐBP; - Những người tham gia tố tụng; - UBND phường N, TP Đ; - Chi cục THADS TP ĐBP; - Toà án nhân dân tỉnh Điện Biên; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Minh Huệ |