- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Thế Ng - Nguyễn Hoài Th"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thế Ng.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ K | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 10/2023/HNGĐ-ST Ngày: 07/3/2023 “V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ K
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Ng Tiền.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Thế Mỹ;
2. Ông Trần Quốc Vũ.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Công Trí, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố K, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố K, tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Bà Huỳnh Thị Bích Vân –Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố K xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 307/2022/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 10 năm 2022 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 02 năm 2023, giữa:
1.Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thế Ng, sinh năm 1994, địa chỉ: số 443 đường 30/4, tổ 15, khóm Châu Long 8, phường B, thành phố K, tỉnh An Giang.
2.Bị đơn: Ông Nguyễn Hoài Th, sinh năm 1991, địa chỉ: tổ 31, khóm C, phường B, thành phố K, tỉnh An Giang.
Bà Ng, ông Th vắng mặt và có yêu cầu xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thế Ng trình bày: Vào năm 2014, bà Ng và ông Th tự tìm hiểu và chung sống với nhau, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường B, thành phố K, tỉnh An Giang theo Giấy chứng nhận kết hôn số 137 ngày 16/7/2014.
Quá trình sống chung, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống gia đình, ông Th không quan tâm chăm sóc gia đình, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng không thể hòa giải được. Cuộc sống chung không hạnh phúc, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn nên bà Ng yêu cầu ly hôn với ông Th.
Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, bà Ng và ông Th có một con chung Nguyễn Hoàng Đăng kh, sinh ngày 15/9/2015. Hiện nay con chung Nguyễn Hoàng Đăng kh đang sống cùng bà Ng và bà Ng có yêu cầu tiếp tục nuôi dạy cháu kh, không yêu cầu ông Th cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tòa án không tiến hành hòa giải được do ông Nguyễn Hoài Th vắng mặt.
Tại phiên tòa,
- Phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án thực hiện đúng quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về xét sử sơ thẩm vụ án.
+ Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án: Trong quá trình giải quyết vụ án, các đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.
+ Ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Năm 2014, bà Ng và ông Th đăng ký kết hôn tại UBND phường B, thành phố K theo Giấy chứng nhận kết hôn số 137, ngày 16/7/2014 nên được xem là hôn nhân hợp pháp, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ vợ chồng. Xét, vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình và sống chung với nhau. Tuy nhiên, trong thời kỳ hôn nhân giữa bà Ng và ông Th phát sinh mâu thuẫn, không thể hàn gắn tình cảm vợ chồng nên bà Ng khởi kiện yêu cầu ly hôn và ông Th đồng ý. Do đó, yêu cầu xin ly hôn của bà Ng có cơ sở chấp nhận.
Về con chung: Bà Ng yêu cầu nuôi dạy con chung Nguyễn Hoàng Đăng kh, sinh ngày 15/9/2015; ông Th đồng ý để bà Ng nuôi dạy con chung. Do đó, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho cháu kh, nên giao cho bà Ng được tiếp tục nuôi dạy con chung là phù hợp quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Đối với ông Th do không trực tiếp nuôi con nên phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, nhưng bà Ng không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, cần ghi nhận sự tự nguyện của bà Ng, về việc không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không đề cập.
Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình 2014 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thế Ng được ly hôn với ông Nguyễn Hoài Th; bà Ng được nuôi dạy con chung Nguyễn Hoàng Đăng kh, sinh ngày 15/9/2015; ông Th không cấp dưỡng nuôi con.
Từ phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Về thẩm quyền: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thế Ng khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Hoài Th. Ông Th cư trú tại tổ 31, khóm C, phường B, thành phố K. Xét, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố K theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về sự vắng mặt của đương sự: Bà Nguyễn Thị Thế Ng, ông Nguyễn Hoài Th vắng mặt và có yêu cầu xét xử vắng mặt; căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với bà Ng, ông Th.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thế Ng và ông Nguyễn Hoài Th chung sống với nhau từ năm 2014, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường B, thành phố K theo giấy chứng nhận kết hôn số 137 ngày 16/7/2014 nên là hôn nhân hợp pháp làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng.
Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định:
Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình.
Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác.
Xét, vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau nhưng ông Th không quan tâm chăm sóc gia đình, nhiều lần đánh bà Ng mặc dù bà Ng đã tạo cơ hội cho ông Th sửa đổi nhưng ông Th vẫn không thay đổi. Mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng không thể hàn gắn nên bà Ng yêu cầu ly hôn với ông Th. Tòa án tiến hành ghi nhận ý kiến ông Nguyễn Hoài Th cho rằng vợ chồng sống chung không hạnh phúc do bất đồng quan điểm sống nên cũng đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà Ng; về con chung, ông Th đồng ý giao con chung Nguyễn Hoàng Đăng kh, sinh ngày 15/9/2015 cho bà Ng nuôi dạy và không cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung, nợ chung của vợ chồng thì không có.
Từ những căn cứ nêu trên, nhận thấy mâu thuẫn gia đình giữa bà Ng và ông Th là trầm trọng, đã không còn chung sống với nhau, vợ chồng không ai quan tâm, chăm sóc cho ai, có kéo dài quan hệ hôn nhân thì mục đích hôn nhân cũng không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Ng về việc ly hôn với ông Th theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: Bà Ng, ông Th cùng xác định trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có 01 (một) con chung tên Nguyễn Hoàng Đăng kh, sinh ngày 15/9/2015. Từ khi vợ chồng phát sinh mâu thuẫn và không còn sống chung đến nay, cháu kh sống cùng với bà Ng được chăm sóc tốt và cho đi học. Bà Ng có yêu cầu được tiếp tục nuôi dạy là phù hợp với nguyện vọng cháu kh. Ông Th cũng đồng ý giao cháu kh cho bà Ng tiếp tục nuôi dạy. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Ng, giao cháu Nguyễn Hoàng Đăng kh, sinh ngày 15/9/2015 cho bà Ng tiếp tục nuôi dạy.
Bà Nguyễn Thị Thế Ng cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông Nguyễn Hoài Th trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Bà Ng không yêu cầu ông Th cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét đến.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm:
Bà Nguyễn Thị Thế Ng phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí mà bà Ng đã nộp.
Ông Nguyễn Hoài Th không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 56, Điều 58,81, 82, 83 và Điều 84 Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thế Ng.
[1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thế Ng được ly hôn với ông Nguyễn Hoài Th.
[2] Về con chung:
Bà Nguyễn Thị Thế Ng được tiếp tục nuôi dạy con chung tên Nguyễn Hoàng Đăng kh, sinh ngày 15/9/2015 cho đến tuổi trưởng thành. Ông Nguyễn Hoài Th không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Bà Nguyễn Thị Thế Ng cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông Nguyễn Hoài Th trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
[3] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm:
Bà Nguyễn Thị Thế Ng phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân sơ thẩm đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai số 0002422 ngày 04 tháng 10 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố K;
bà Ng đã nộp đủ án phí.
Ông Nguyễn Hoài Th không phải chịu án phí hôn nhân gia đình
sơ thẩm.
[4] Giấy chứng nhận kết hôn số 137 ngày 16/7/2014 của Ủy ban nhân dân phường B, thành phố K, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý.
[5] Về quyền kháng cáo:
Thời hạn kháng cáo của bà Nguyễn Thị Thế Ng, ông Nguyễn Hoài Th là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND TP. K (2); - TAND tỉnh An Giang (1); - Chi cục THADS TP.K (1); - Các đương sự; - UBND xã, phường nơi đăng ký kết hôn; - Lưu hồ sơ (1); - Lưu văn phòng (1). | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lê Ng Tiền |