vanban.org

Bản án 10/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Bà Trương Thị T được ly hôn ông Đỗ Tấn T.

Về con chung: Giao cho bà Trương Thị T được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đỗ Thị N, sinh ngày 02-6-2009 cho đến khi đến tuổi trưởng T (Đủ 18 tuổi). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà T ly hôn ông T"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Bà Trương Thị T được ly hôn ông Đỗ Tấn T.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN XUYÊN MỘC
TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2023/HNGĐ-ST
Ngày 31 tháng 01 năm 2023
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUYÊN MỘC, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

- T phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Ai Giôn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Khanh

Bà Nguyễn Thị Nga

- Thư ký phiên toà: Bà Danh Thị Ngọc Lệ – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Ông Vũ Đình Rư - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 01 năm 2023, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 334/2022/TLST-HNGĐ ngày 20-10-2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 132/2022/QĐST - HNGĐ ngày 19-12-2022, quyết định hoãn phiên tòa số 02/2023/QĐST - HNGĐ ngày 06-01-2023, giữa:

1. Nguyên đơn: Bà Trương Thị T, sinh năm 1986. Địa chỉ: Ấp B, xã Bình Châu, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt).

2. Bị đơn: Ông Đỗ Tấn T, sinh năm 1980. Địa chỉ: Tổ 12, Ấp Bình Tiến, xã Bình Châu, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qúa trình tố tụng nguyên đơn bà Trương Thị T trình bày:

Bà Trương Thị T (Bà T) và ông Đỗ Tấn T (Ông T) đi đến chung sống với nhau và đăng ký kết hôn tại UBND xã Đức Mạnh, huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông vào năm 2008. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, không có ai mai mối hay ép buộc. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi vả, không khí gia đình luôn căng thẳng. Từ những mâu thuẫn trên khiến cho tình cảm vợ chồng rạn nứt không thể hàn gắn mặc dù đã được hai bên gia đình hòa giải nhiều lần, vợ chồng ly thân từ đầu năm 2022 cho đến nay. Nay, Bà T cảm thấy mục đích hôn nhân không đạt, đời sống chung không thể kéo dài nên Bà T yêu cầu Tòa án giải quyết cho Bà T ly hôn với ông Đỗ Tấn T.

Về con chung: Bà T và ông Đỗ Tấn T có 02 con chung tên: Đỗ Thị N, sinh ngày 02-6-2009, Đỗ Kim N, sinh ngày 21-12-2017. Hiện nay, hai con chung đang sống với Bà T. Bà T yêu cầu được nuôi con và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Đỗ Tấn T đều vắng mặt trong quá trình tố tụng.

Phát biểu quan điểm của kiểm sát viên:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm Phán, Hội đồng xét xử, Thư ký cũng như việc chấp hành pháp luật của đương sự đúng trình tự, thủ tục tố tụng được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự đã được Tòa án triệu tập tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng. Với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa thì đã đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Bà T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

. Về thẩm quyền, quan hệ pháp luật tranh chấp:

- Xét yêu cầu của nguyên đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn, tranh chấp về nuôi con. Đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc triệu tập tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông T tại địa chỉ Tổ 12, Ấp Bình Tiến, xã Bình Châu, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Tại phiên tòa sơ thẩm thứ nhất và cũng như tại phiên tòa hôm nay, ông T đều vắng mặt không có lý do. Như vậy, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ vào Điều 72, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 BLTTDS, Tòa án xét xử vắng mặt ông T.

. Về hôn nhân:

Ông T và Bà T chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đức Mạnh, huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông được chứng minh bằng Giấy chứng nhận kết hôn nên quan hệ hôn nhân giữa ông T và Bà T là hợp pháp.

Quá trình chung sống do hai bên bất đồng về quan điểm sống nên dẫn đến va chạm, mâu thuẫn, mất lòng tin với nhau. Từ mâu thuẫn này, hai bên không thể tự hòa giải mâu thuẫn mà thường xuyên cãi vả nhau. Vì vậy, ông T và Bà T đã sống ly thân, không còn quan hệ với nhau cả về tình cảm lẫn kinh tế. Xét thấy giữa ông T và Bà T không còn quan tâm đến nhau, tình cảm vợ chồng thực sự không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, căn cứ khoản 1 Điều 56, khoản 1 Điều 57 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 chấp nhận cho Bà T được ly hôn với ông T.

. Về con chung:

Bà T và ông T có con chung tên Đỗ Thị N, sinh ngày 02-6-2009, Đỗ Kim N, sinh ngày 21-12-2017. Hiện tại, con chung đang sống cùng Bà T. Bà T yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung đến tuổi trưởng T (Đủ 18 tuổi) và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi dưỡng nuôi con.

Hội đồng xét xử xét thấy việc giao con cho ai nuôi cần phải xem xét mọi mặt và quyền lợi của con chưa T niên. Xét thấy, cháu Đỗ Thị N, Đỗ Kim N chung sống với Bà T, vẫn đảm bảo tốt về mọi mặt nên chấp nhận yêu cầu của Bà T. Bà T đề nghị không cấp dưỡng nuôi con. Do đó, tạm thời ông T không phải cấp dưỡng nuôi con.

. Về tài sản chung, nợ chung: Ông T và Bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên chưa xử lý phần tài sản chung, nợ chung.

. Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 24, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án thì Bà T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Vì những lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 35, 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 56, khoản 1 Điều 57, các Điều 58, 81, 82, 83, 84, 107, 110, 116, 117, 119 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 24, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Bà Trương Thị T được ly hôn ông Đỗ Tấn T.

2. Về con chung:

Giao cho bà Trương Thị T được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đỗ Thị N, sinh ngày 02-6-2009 cho đến khi đến tuổi trưởng T (Đủ 18 tuổi).

Giao cho bà Trương Thị T được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đỗ Kim N, sinh ngày 21-12-2017 cho đến khi đến tuổi trưởng T (Đủ 18 tuổi).

Tạm thời ông Đỗ Tấn T không phải cấp dưỡng nuôi con do bà Trương Thị T không có yêu cầu.

Ông Đỗ Tấn T được quyền lui tới thăm và chăm sóc con chung, không ai được quyền ngăn cấm, cản trở.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.

3. Về án phí: Bà Trương Thị T phải chịu 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0011375 ngày 18-10-2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Như vậy, Bà T đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo:

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử lại vụ án theo trình tự phúc thẩm (Đương sự vắng mặt kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết).

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Lụât thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại điều 30 luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ