vanban.org

Bản án 10/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Xử cho anh Nguyễn Đinh Văn được ly hônchị Nguyễn Thị Th.

Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Thị Ngọc Hsinh ngày 27/9/2012 và Nguyễn Thị Hà A, sinh ngày 08/8/2015cho anh Nguyễn Đình V nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi các con chung trưởng thành (đủ 18 tuổi). Chấp nhận sự tự nguyện của anh Văn không yêu cầu chị Thoa phải cấp dưỡng nuôi con. Chị… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ Ly hôn Phạm Thị Minh N - Nguyễn Văn P"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử cho anh Nguyễn Đinh Văn được ly hônchị Nguyễn Thị Th.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TỨ KỲ
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:10/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 16-3-2023
“V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Thành.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Hoan

2. Bà Nguyễn Thị Hồng

-Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Anh - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ - tỉnh Hải Dươngtham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Khánh- Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 28/2023/TLST - HNGĐ ngày 02 tháng 02 năm 2023 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2023/QĐXXST - HNGĐ ngày 01 tháng 3 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Đình V, sinh năm 1988

Nơi cư trú: thôn Thượng H, xã Bình L, huyện Tứ K, tỉnh Hải Dương.

- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Th, sinh năm 1990

Nơi cư trú: ấp Sông X, xã Sông X, thị xã Phú M, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu

Các đương sự đều vắng mặt;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện và các tài liệu khác có tại hồ sơ, nguyên đơn anh Nguyễn Đình V trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Đình V và chị Nguyễn Thị Th được tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã Bình Lãng huyện Tứ Kỳ ngày 09/4/2012. Sau khi kết hôn, anh Văn và chị Thoa sinh sống tại thôn Thượng Hải, xã Bình Lãng, huyện Tứ Kỳ hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không tin tưởng, tôn trọng nhau dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi nhau. Năm 2018, chị Thoa bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở ấp Sông X, xã Sông X, thị xã Phú M, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu sinh sống, ly thân với anh Văn, từ đó vợ chồng không ai quan tâm đến ai. Nay anh Văn xác định tình cảm vợ chồng với chị Thoa không còn, đời sống chung không thể kéo dài nên có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị Thoa.

Về con chung: trong thời kỳ hôn nhân anh Văn, chị Thoa có 02 con chung là cháu Nguyễn Thị Ngọc Hsinh ngày 27/9/2012 và Nguyễn Thị Hà A, sinh ngày 08/8/2015, hiện nay các con chung đang ở cùng anh Văn. Khi ly hôn,anh Văn có nguyện vọng được nuôi dưỡng cả hai con chung và không yêu cầu chị Thoa phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Tại bản tự khai của chị Nguyễn Thị Th gửi Tòa án, chị Thoa trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị xác định lời trình bày của anh Văn về điều kiện kết hôn, nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là đúng, đến nay chị xác định không còn tình cảm với anh Văn nên anh Văn xin ly hôn chị thì chị đồng ý ly hôn.

Về con chung: Chị xác định lời trình bày của anh Văn về số lượng con chung, họ tên, ngày tháng năm sinh của con chung là đúng, hiện các con chung đang ở cùng anh Văn. Khi ly hôn anh Văn có nguyện vọng được nuôi dưỡng cả 02 con chung và không yêu cầu chị phải cấp dưỡng nuôi con thì chị đồng ý.

Về tài sản chung, công nợ: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Biên bản xác minh tại UBND xã Bình Lãng, huyện Tứ Kỳ thể hiện: Anh Nguyễn Đình V và chị Nguyễn Thị Th có làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND xã vào ngày 09/4/2012. Sau khi đăng ký kết hôn anh chị sinh sống và lao động tại xã Bình Lãng, cuộc sống vui vẻ hạnh phúc đến năm 2018 không hiểu lý do vì sao chị Thoa bỏ nhà đi và bỏ hai con cho anh Phong nuôi dưỡng, kể từ đó đến nay không thấy chị Thoa quay về. Chị Thoa và anh Văn cũng chưa lần nào có đơn đề nghị địa phương hòa giải mâu thuẫn vợ chồng nên địa phương không nắm được mâu thuẫn giữa vợ chồng anh chị. Anh chị có 02 con chung là Nguyễn Thị Ngọc Hsinh ngày 27/9/2012 và Nguyễn Thị Hà A, sinh ngày 08/8/2015, hiện đang ở cùng anh Văn, từ khi chị Thoa bỏ nhà đi, anh Văn là người nuôi dưỡng các con, anh Văn có công việc, chỗ ở ổn định nên đủ điều kiện nuôi con. Quan điểm của địa phương đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

Tại phiên toà, anh Văn, chị Thoa vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt anh chị.

Đại diện VKSND huyện Tứ Kỳ tham gia phiên toà phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng đến trước thời điểm HĐXX nghị án và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân gia đình; khoản 1 Điều 28, Điều 147 BLTTDS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về ... án phí và lệ phí Toà án. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Đình V về xin ly hôn chị Nguyễn Thị Th; Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Ngọc Hsinh ngày 27/9/2012 và Nguyễn Thị Hà A, sinh ngày 08/8/2015 cho anh Nguyễn Đình V trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc cho đến khi đủ 18 tuổi. Chấp nhận sự tự nguyện của anh Văn về không yêu cầu chị Thoa phải cấp dưỡng nuôi con. Chị Thoa có quyền thăm nom con chung không ai được phép ngăn cản.; Về án phí: Anh Nguyễn Đình V phải chịu án phí ly hôn theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

[1.1] Anh Nguyễn Đình V có đơn yêu cầu ly hôn, giải quyết việc nuôi con chung giữa anh và chị Nguyễn Thị Th. Do vậy, TAND xác định đây là vụ án "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con" theo quy định tại khoản 1 Điều 28 BLTTDS. Chị Nguyễn Thị Th hiện sinh sống tại ấp Sông X, xã Sông X, thị xã Phú M, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu, tuy nhiên chị Thoa và anh Văn đều có văn bản lựa chọn TAND huyện Tứ Kỳ giải quyết nên TAND huyện Tứ Kỳ thụ lý để giải quyết là đúng về thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39 BLTTDS.

Anh Văn, chị Thoađã được Tòa án triệu tập hợp lệ và có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó Tòa án xét xử vắng mặt anh chị theo quy định tại khoản 1 Điều 228 BLTTDS.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Đình V và chị Nguyễn Thị Th được tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã Bình Lãng huyện Tứ Kỳ ngày 09/4/2012nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, do mâu thuẫn kéo dài không được khắc phục nên năm 2018 chị Thoa bỏ vào sinh sống, làm việc tại tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu, từ đó anh chị không ai quan tâm đến ai. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa anh Văn và chị Thoa đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung vợ chồng không thể kéo dài nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Văn, xử cho anh Văn được ly hôn chị Thoa là phù hợp quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân anh Văn, chị Thoa có 02 con chung là cháu Nguyễn Thị Ngọc Hsinh ngày 27/9/2012 và Nguyễn Thị Hà A, sinh ngày 08/8/2015, hiện nay các con chung đang ở cùng anh Văn. Khi ly hôn, anh Văn có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng cả hai con chung và không yêu cầu chị Thoa cấp dưỡng nuôi con, các con chung có đơn trình bày nguyện vọng được ở với anh Văn, chị Thoa có quan điểm đồng ý giao cả hai con cho anh Văn nuôi dưỡng. Xét thấy, chị Thoa bỏ nhà đi từ năm 2018 đến nay, anh Văn là người nuôi dưỡng chăm sóc các con chung, các con chung phát triển khỏe mạnh, cuộc sống ổn định nên cần chấp nhận yêu cầu của anh Văn, giao cả hai con chung cho anh Văn nuôi dưỡng, chăm sóc, chấp nhận sự tự nguyện của anh Văn không yêu cầu chị Thoa cấp dưỡng nuôi con, chị Thoa có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở là phù hợp quy định tại các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về tài sản chung, công nợ: Anh Văn, chị Thoa không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí: Anh Nguyễn Đình Vkhởi kiện vụ án hôn nhân gia đình nên phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về ...án phí và lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 228, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về ... án phí và lệ phí Toà án.

1. Về hôn nhân: Xử cho anh Nguyễn Đinh Văn được ly hônchị Nguyễn Thị Th.

2. Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Thị Ngọc Hsinh ngày 27/9/2012 và Nguyễn Thị Hà A, sinh ngày 08/8/2015cho anh Nguyễn Đình V nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi các con chung trưởng thành (đủ 18 tuổi). Chấp nhận sự tự nguyện của anh Văn không yêu cầu chị Thoa phải cấp dưỡng nuôi con.

Chị Nguyễn Thị Th có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

3. Về án phí: Anh Nguyễn Đình V phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm (Hôn nhân gia đình) được đối trừ số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0003261 ngày 02/02/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương. Anh Phong đã nộp đủ.

Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai, báo cho nguyên đơn, bị đơn được biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ