vanban.org

Bản án 10/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Phạm Thị Thu N .

1. Về hôn nhân: chị Phạm Thị Thu N được ly hôn với anh Huỳnh Hữu T . Giấy chứng nhận kết hôn số 75, ngày 03 tháng 4 năm 2013 của Ủy ban nhân dân xã C, huyện C , tỉnh A không còn giá trị pháp lý. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Phạm Thị Thu N .
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN T

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH A
Bản án số: 10/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 01- 02 - 2023
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH A

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Trần Văn H.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đặng Thanh L.

2. Bà Nguyễn Thị Hồng N.

- Thư ký phiên toà: bà Đặng Huỳnh H - Thư ký Tòa án nhân dân huyện T , tỉnh A .

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị L - Kiểm sát viên.

Trong ngày 01 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T , tỉnh A xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 465/2022/TLST-HNGĐ ngày 24/10/2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 352/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 15/12/2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2023/QĐST-HNGĐ ngày 04/01/2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: chị Phạm Thị Thu N , sinh năm 1990. (Có mặt).

Địa chỉ: ấp T, xã M , huyện T , tỉnh A .

2. Bị đơn: anh Huỳnh Hữu T , sinh năm 1990. (Vắng mặt).

Địa chỉ: ấp T, xã M , huyện T , tỉnh A .

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, tờ tự khai ngày 16/9/2022, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn chị Phạm Thị Thu N trình bày: sau thời gian tìm hiểu, chị Phạm Thị Thu N với anh Huỳnh Hữu T tiến đến hôn nhân vào năm 2012, không có tổ chức lễ cưới nhưng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân (UBND) xã C, huyện C, tỉnh A và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 75 ngày 03/04/2013. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc và sinh được một con chung tên Huỳnh Phạm Hữu K , sinh ngày 03/8/2013. Đến năm 2014, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân bất đồng quan điểm sống, anh T thường xuyên uống rượu và còn đánh đập chị N . Mặc dù được gia đình hai bên hòa giải nhưng vẫn không có kết quả. Đến cuối năm 2021, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng nên anh T bỏ nhà đi cho đến nay. Quá trình chung sống, chị N và anh T không có tài sản chung và không có nợ chung.

Nay mâu thuẫn vợ chồng gay gắt nên chị N yêu cầu Tòa án giải quyết như sau: về hôn nhân, chị N yêu cầu ly hôn với anh Huỳnh Hữu T . Về con chung, cháu Huỳnh Phạm Hữu K đang sống chung với chị N và được học hành ổn định nên chị yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu anh T cấp dưỡng. Về tài sản chung và nợ chung: không có.

Bị đơn anh Huỳnh Hữu T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều vắng mặt nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của bị đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T phát biểu ý kiến:

- Về thủ tục tố tụng: qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến thời điểm hiện tại, Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 như: xác định đúng quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết theo quy định tại Điều 28 và Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự. Quá trình tiến hành tố tụng, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về xét xử sơ thẩm vụ án. Nguyên đơn đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do nên vi phạm Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung giải quyết vụ án: qua xem xét toàn bộ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điều 8, 9, 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, tuyên: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

+ Về hôn nhân: chị N được ly hôn với anh T.

+ Về con chung: giao cháu Huỳnh Phạm Hữu K , sinh ngày 03/8/2013 cho chị N chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con.

+ Về tài sản chung và nợ chung: không có nên không xem xét.

+ Về án phí: chị N yêu cầu ly hôn nên phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Huỳnh Hữu T có địa chỉ tại xã M, huyện T , tỉnh A , nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện T theo quy định tại Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã triệu tập hợp lệ bị đơn anh Huỳnh Hữu T đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa. Tuy nhiên, các lần triệu tập anh T đều vắng mặt, không lý do. Do vậy, căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt anh T theo thủ tục chung.

Về quan hệ hôn nhân: chị Phạm Thị Thu N và anh Huỳnh Hữu T chung sống với nhau từ năm 2012, sau đó thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn nên được Ủy ban nhân dân (UBND) xã C, huyện C , tỉnh A cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 75, ngày 03/4/2013. Vì vậy, quan hệ hôn nhân của chị N và anh T phù hợp với quy định tại Điều 8 và Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình nên được pháp luật công nhận là vợ chồng.

Xét yêu cầu ly hôn của chị N thấy rằng: chị N và anh T chung sống hạnh phúc thời gian đầu nhưng đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn. Chị N cho rằng, anh T thường xuyên uống rượu, không quan tâm đến gia đình, từ đó bất hòa trong đời sống vợ chồng. Vì vậy, chị N và anh T sống ly thân từ cuối năm 2021 đến nay.

Tại biên bản xác minh tình trạng hôn nhân ngày 11/11/2022, được đại diện Ban ấp T, xã M , huyện T cung cấp như sau: chị N và anh T tiến đến hôn nhân vào năm 2021. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, khoảng năm 2020 anh T thường xuyên vắng mặt tại địa phương nhưng không rõ đi đâu. Chị N đang nuôi cháu Huỳnh Phạm Hữu K .

Từ những nhận định tại mục [3], Hội đồng xét xử xét thấy quan hệ hôn nhân giữa chị N và anh T đã phát sinh mâu thuẫn từ năm 2014. Mặc dù đã được họ hàng của hai bên khuyên ngăn, hòa giải nhưng giữa chị N và anh T vẫn tiếp tục sống ly thân từ cuối năm 2021 cho đến nay. Tại phiên tòa, chị N vẫn nhất quyết ly hôn với anh T vì không còn tình nghĩa vợ chồng. Như vậy, tình trạng hôn nhân giữa chị N và anh T mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, áp dụng Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Phạm Thị Thu N .

Về quan hệ con chung: chị N và anh T có 01 con chung tên Huỳnh Phạm Hữu K , sinh ngày 03/8/2013. Chị N yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu anh T cấp dưỡng.

Xét thấy, việc giao con cho ai nuôi cần căn cứ vào quyền lợi mọi mặt của con chưa thành niên. Cháu K đang sống chung với chị N và được học hành ổn định. Tại biên bản ghi nhận nguyện vọng của cháu Kiệt, lập ngày 28/11/2022 thì cháu muốn được sống chung với chị N . Do vậy, để ổn định cuộc sống và tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển bình thường về thể chất, tinh thần của cháu Kiệt; Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị N , giao cháu K cho chị N tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng là có căn cứ và phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Chị N không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xét đến.

Về tài sản chung và nợ chung: không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí dân sự sơ thẩm: chị Phạm Thị Thu N yêu cầu ly hôn nên phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Xét, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các điều 8, 9, 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 2 Điều 227, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Phạm Thị Thu N .

1.1. Về hôn nhân: chị Phạm Thị Thu N được ly hôn với anh Huỳnh Hữu T .

Giấy chứng nhận kết hôn số 75, ngày 03 tháng 4 năm 2013 của Ủy ban nhân dân xã C, huyện C , tỉnh A không còn giá trị pháp lý.

1.2. Về con chung: giao cháu Huỳnh Phạm Hữu K , sinh ngày 03/8/2013 cho chị Phạm Thị Thu N tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục (cháu K đang sống chung với chị N ). Anh Huỳnh Hữu T không phải cấp dưỡng nuôi con.

Chị Phạm Thị Thu N cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở anh Huỳnh Hữu T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trên cơ sở lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, của cơ quan có thẩm quyền thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

1.3. Về tài sản chung: không có.

1.4. Về nợ chung: ghi nhận chị N xác định không có nợ chung, nhưng sau khi bản án này có hiệu lực pháp luật, nếu có nguyên đơn khởi kiện xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì chị Phạm Thị Thu N và anh Huỳnh Hữu T vẫn phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: chị Phạm Thị Thu N phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0011274 ngày 24/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T , tỉnh A (chị N đã nộp đủ).

3. Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ