- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án hôn nhân gia đình"
- Tòa quyết gì? Xử giao cháu Ng H Th, sinh ngày 14/01/2014 cho anh Ng Tr Th trực tiếp nuôi dưỡng.
- Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MINH HOÁ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH QUẢNG BÌNH Bản án số: 10/2023/HNGĐ- ST Ngày: 16/02/2023 “V/v yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MINH HOÁ, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trương Quốc Hoàn
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông: Đinh Hồng Sâm
Bà: Cao Thị Thu Ngà
- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Hà – Thư ký Toà án nhân dân huyện Minh Hoá, tỉnh Quảng Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Minh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Thanh Nga – Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 02 năm 2023 tại Toà án nhân dân huyện Minh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 98/2022/TLST - HNGĐ ngày 07/10/2022 về việc “thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 98/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 30/12/2022 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Ng Tr Th, sinh năm 1984
Trú tại: Thôn R, xã H H, huyện M H, tỉnh Quảng Bình. Có mặt.
2. Bị đơn: Chị Đ Th Th Ng, sinh năm 1986
Nơi ĐKNKTT: Thôn R, xã H H, huyện M H, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 07/10/2022 của nguyên đơn Ng Tr Th trình bày: Ngày 10/11/2021 Tòa án nhân dân huyện Minh Hóa xử cho anh và chị Đ Th Th Ng ly hôn. Giữa anh Th và chị Ng có 02 người con chung, Tòa án xử giao cháu Ng H D, sinh ngày 23/4/2010 cho anh trực tiếp nuôi dưỡng, xử giao cháu Ng H Th, sinh ngày 14/01/2014 cho chị Đ Th Th Ng trực tiếp nuôi dưỡng. Nhưng từ khi bản án có hiệu lực pháp luật cho đến nay cháu Th vẫn do anh trực tiếp nuôi dưỡng, chị Ng không quan tâm, không có trách nhiệm với con. Hiện nay chị Ng đã lập gia đình mới và sinh sống với gia đình mới không có trách nhiệm với con. Vì vậy, anh làm đơn này yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con, để cho anh là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu Ng H Th, sinh ngày 14/01/2014.
Ngày 13/01/2023, Toà án nhân dân huyện Minh Hoá đã mở phiên tòa xét xử sơ thẩm đối với anh Th và chị Ng. Mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng chị Ng vẫn vắng mặt nên Toà án đã hoãn phiên toà vì vắng mặt bị đơn. Tại phiên tòa hôm nay chị Ng vẫn vắng mặt không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Minh Hóa phát biểu ý kiến về tuân theo pháp luật tố tụng dân sự của Hội đồng xét xử, Thẩm phán, Thư ký và những người tham gia tố tụng và đưa ra quan điểm xét xử đối với vụ án nên Hội đồng xét xử sẽ xem xét để quyết định nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ kiện tranh chấp về hôn nhân và gia đình, căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Minh Hóa.
Sau khi thụ lý vụ án Toà án nhân dân huyện Minh Hoá đã triệu tập chị Ng nhiều lần nhưng chị Ng không đến Toà án để giải quyết vụ án. Toà án đã đến tại cơ sở và xác minh thì biết được chị Ng có hộ khẩu thường trú tại xã H H, huyện M H, tỉnh Quảng Bình, hiện tại chị Ng đi làm ăn xa không có mặt tại địa phương. Tòa án đã niêm yết tất cả các giấy triệu tập, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Thông báo mở lại phiên tòa nhưng chị Ng vẫn không đến Tòa án để giải quyết vụ án theo yêu cầu của anh Th. Căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án giải quyết vụ án theo thủ tục chung.
Về yêu cầu của nguyên đơn: Ngày 10/11/2021, Tòa án nhân dân huyện Minh Hóa đã xét xử cho anh Ng Tr Th và chị Đ Th Th Ng ly hôn, xử giao cháu Ng H D, sinh ngày 23/4/2010 cho anh Th trực tiếp nuôi dưỡng, xử giao cháu Ng H Th, sinh ngày 14/01/2014 cho chị Đ Th Th Ng trực tiếp nuôi dưỡng. Nhưng từ khi bản án có hiệu lực pháp luật cho đến nay cháu Th vẫn do anh Th trực tiếp nuôi dưỡng, chị Ng không quan tâm, không có trách nhiệm với con và đã đi khỏi địa phương nơi cư trú có xác nhận của UBND xã H H. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi cho cháu Th cần xét xử giao cháu Ng H Th, sinh ngày 14/01/2014 cho anh Ng Tr Th trực tiếp nuôi dưỡng và buộc chị Đ Th Th Ng đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con cho cháu Ng H D sinh ngày 23/4/2010 và cháu Ng H Th, sinh ngày 14/01/2014 mỗi cháu 1.000.000 đồng/tháng cho đến khi cháu D và cháu Th tròn 18 tuổi.
Án phí: Anh Ng Tr Th là người khuyết tật có hoàn cảnh khó khăn thuộc diện hộ nghèo có xác nhận của UBND xã H H nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
Chị Đ Th Th Ng phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con theo đình kỳ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 147, 227, 228 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng Điều 81,82,83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình:
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử
1. Xử giao cháu Ng H Th, sinh ngày 14/01/2014 cho anh Ng Tr Th trực tiếp nuôi dưỡng. Xử buộc chị Đ Th Th Ng đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con cho cháu Ng H D sinh ngày 23/4/2010 và cháu Ng H Th, sinh ngày 14/01/2014 mỗi cháu 1.000.000 đồng/tháng cho đến khi cháu D và cháu Th tròn 18 tuổi
Không ai được ngăn cản việc đi lại chăm sóc con chung, khi cần thiết vì quyền lợi của con một trong hai bên có quyền làm đơn yêu cầu Toà án thay đổi người trực tiếp nuôi con.
2. Về án phí: Anh Ng Tr Th là người khuyết tật có hoàn cảnh khó khăn thuộc diện hộ nghèo có xác nhận của UBND xã H H nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
Chị Đ Th Th Ng phải chịu và 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con theo đình kỳ.
3. Quyền yêu cầu thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (16/02/2023), bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày được niêm yết bản án tại UBND xã nơi cư trú để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Bình; - VKSND huyện Minh Hoá; - VKSND tỉnh Quảng Bình; - Chi cục THADS huyện Minh Hoá; - Nguyên đơn; - Bị đơn; - UBND xã H H; - Lưu hồ sơ. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ 1. Trương Ngọc Nhân 2. Lê Minh Toàn | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ( đã ký ) Trương Quốc Hoàn THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |