vanban.org

Bản án 10/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn xin ly hôn của anh B đối với chị T.

Về hôn nhân: Anh B được ly hôn với chị T (chấm dứt hôn nhân). Về con chung: Giao cháu P– sinh ngày 29/10/2015 cho anh B được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến tuổi trưởng thành. Chị T được quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc con chung, anh B không được cản trở hoặc gây trở ngại đến việc thăm… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "xin ly hôn và tranh chấp nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn xin ly hôn của anh B đối với chị T.
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KRÔNG NÔ
TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:10/2023/HNGĐ-ST
Ngày 20/7/2023
Về việc:“Ly hôn, tranh chấp về
nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG NÔ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lại Hồng Duy.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hồ Quang Hiển và ông Phạm Đình Bông.

- Thư ký phiên toà: Bà Nông Thị Hường - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Nô tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Vũ Hồng Hoa- Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 07 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Krông Nô xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số:17/2023/TLST-HNGĐ, ngày 10/3/2023, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 12/6/2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 56/2023/QĐST-HNGĐ, ngày 03/7/2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh B, sinh năm 1987, có mặt.

Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện K, tỉnh Đắk Nông.

2. Bị đơn: Chị T, sinh năm 1995, vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện K, tỉnh Đắk Nông.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Theo đơn xin ly hôn, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa anh B trình bày: Anh B và chị T kết hôn vào năm 2015, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đắk Drô vào ngày 12/01/2015. Hôn nhân trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và không bị ép buộc.

Anh B và chị T có 01 con chung: Cháu P– sinh ngày 29/10/2015. Hiện nay cháu đang ở với anh B - địa chỉ Thôn Đ, xã Đ, huyện K, tỉnh Đắk Nông. Cháu P chuẩn bị vào học lớp 03 trường tiểu học N tại xã Đ, huyện K, tỉnh Đắk Nông.

Tài sản chung, tài sản riêng và công nợ: Không yêu cầu giải quyết.

Mẫu thuẫn dẫn đến xin ly hôn: Anh B và chị T phát sinh mâu thuẫn trong gia đình, trong lối sống và sinh hoạt trong gia đình, hai vợ chồng có cách nghĩ, quan điểm sống trái ngược nhau, không có tiếng nói chung. Ngoài ra, giữa chị T và anh B luôn nghi ngờ và không tin tưởng nhau về mọi mặt. Dẫn đến hai vợ chồng thường xuyên cãi nhau, xung đột trong gia đình, vợ chồng không còn thương yêu, không quý trọng nhau, không chăm sóc, không giúp đỡ nhau, chỉ biết bổn phận của riêng mình, bỏ mặc nhau. Chị T đã bỏ nhà (bỏ địa phương) từ tháng 03/2018, khi đi không thông báo cho người nhà và chính quyền địa phương được biết.

Nay anh B xin được ly hôn với chị T. Con chung: Anh B xin nuôi cháu P– sinh ngày 29/10/2015. Không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung. Tài sản chung, tài sản riêng và công nợ không yêu cầu giải quyết

- Bị đơn chị T: Qua xác minh tại Công an xã Đ, huyện K, tỉnh Đắk Nông, chị T có đăng ký hộ khẩu thường trú và không còn sinh sống tại Thôn Đ, xã Đ, huyện K, tỉnh Đắk Nông. Tòa án nhân huyện Krông Nô ban hành Quyết định giải quyết việc dân sự số 01/2020/QDST – VDS, ngày 05/01/2020 về việc “Tuyên bố một người mất tích” đối với chị T theo yêu cầu của anh B.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Krông Nô đã kết hợp với chính quyền địa phương tiến hành tiêm yết văn bản tố tụng trong vụ án đối với chị T nhưng chị T vẫn vắng mặt không có lý do.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Nô tham gia phiên toà kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án xác định người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng ở giai đoạn sơ thẩm đều tuân thủ quy định của pháp luật. Duy chỉ, bị đơn chị T không chấp hành theo quy định của pháp luật, cố tình vắng mặt không có lý do, chị T tự tước quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ các Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chấp nhận đơn và cho anh B được ly hôn với chị T (chấm dứt hôn nhân). Giao cháu P– sinh ngày 29/10/2015 cho anh B trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng; anh B không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung. Tài sản chung, tài sản riêng và công nợ, nguyên đơn không yêu cầu giải quyết. Buộc anh B chịu án phí 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Về thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án xin ly hôn giữa nguyên đơn anh B và chị T. Bị đơn chị T có đăng ký thường trú tại Thôn Đ, xã Đ, huyện K, tỉnh Đắk Nông. Nên Tòa án nhân dân huyện Krông Nô thụ lý là đúng quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn chị T: Qua xác minh, chị T có đăng ký thường trú tại và hiện tại không còn sinh sống tại Thôn Đ, xã Đ, huyện K, tỉnh Đắk Nông. Tòa án nhân dân huyện Krông Nô ban hành Quyết định giải quyết việc dân sự số 01/2020/QĐST – VDS, ngày 05/01/2020 về việc “Tuyên bố một người mất tích” đối với chị T theo yêu cầu của anh B.

Đồng thời, Tòa án tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng trong vụ án theo quy định pháp luật đối với chị T, nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Việc vắng mặt của chị T không có lý do nên Tòa án tiến hành giải quyết vắng mặt là đúng theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử, tiến hành xét xử vắng mặt chị T là đúng quy định của pháp luật.

Trong quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa chị T đều vắng mặt không có lý do, đồng thời không cung cấp chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, cũng như đưa ra quan điểm để phán bác lại yêu cầu của nguyên đơn. Theo khoản 4 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự “Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc”. Như vậy, chị T phải chịu hậu quả về việc không đưa ra được chứng cứ để bảo vệ cho quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Về hôn nhân: Anh B và chị T xây dựng gia đình trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc, tự do đi đến hôn nhân. Có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện K, tỉnh Đắk Nông vào ngày 12/01/2015 và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 08/2015, quyển sổ số 02/2015. Do đó, hôn nhân giữa anh B và chị T là hợp pháp.

Về mâu thuẫn dẫn đến ly hôn: Anh B và chị T có những mâu thuẫn trong gia đình, trong lối sống và sinh hoạt trong gia đình, hai vợ chồng có cách nghĩ, quan điểm sống trái ngược nhau, không có tiếng nói chung. Dẫn đến hai vợ chồng thường xuyên cãi nhau, xung đột trong gia đình, vợ chồng không còn thương yêu, không quý trọng nhau, bỏ mặc nhau. Từ đó, chị T đã bỏ đi khỏi địa phương từ năm 2018 cho đến nay, anh B không biết chị T hiện đang sinh sống tại đâu.

Như vậy, mâu thuẫn giữa chị T và anh B đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, vợ chồng không còn thương yêu, không quan tâm, hạnh phúc gia đình không có. Do đó, để giải phóng cho hôn nhân không còn mục đích, Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận đơn và cho anh B được ly hôn với chị T.

Con chung: Anh B xin được quyền nuôi dưỡng cháu P– sinh ngày 29/10/2015, thể hiện trách nhiệm người cha với con cái. Trong quá trình giải quyết vụ án, chị T vắng mặt và không đưa ra quan điểm về con cái. Qua làm việc với cháu P, thì cháu P có nguyện vọng ở với anh B. Nên Hội đồng xét xử xét thấy cần giao cháu P cho anh B nuôi dưỡng là phù hợp.

Cấp dưỡng nuôi con: Đương sự không yêu cầu. Tuy nhiên, vì lợi ích của con chung theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi mức cấp dưỡng, chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng, yêu cầu thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng đối với các con theo quy định Luật hôn nhân và gia đình.

Tài sản chung, tài sản riêng và công nợ, nguyên đơn không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Án phí dân sự sơ thẩm: Anh B phải nộp án phí theo quy định pháp luật.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên Hội đồng xét xử cấn chấp nhận.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 94; Điều 144; Điều 147; Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Áp dụng các Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Chấp nhận đơn xin ly hôn của anh B đối với chị T.

1. Về hôn nhân: Anh B được ly hôn với chị T (chấm dứt hôn nhân).

2. Về con chung: Giao cháu P– sinh ngày 29/10/2015 cho anh B được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến tuổi trưởng thành. Chị T được quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc con chung, anh B không được cản trở hoặc gây trở ngại đến việc thăm nom, giáo dục con chung.

Việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn; Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau ly hôn; Nghĩa vụ, quyền của cha mẹ trực tiếp nuôi con đối với người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện theo quy định tại các Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình.

3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Đương sự không yêu cầu.

Vì lợi ích của con chung theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định: Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn, thay đổi mức cấp dưỡng, chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng, yêu cầu thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định tại các Điều 84, 107, 110,116 của Luật hôn nhân và gia đình.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh B phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0003486 ngày 07/3/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông.

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo toàn bộ bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo toàn bộ bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ