- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa anh L và chị H"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: xử cho anh Nguyễn Thành L được ly hôn chị Khúc Thị H.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 10/2023/HNGĐ- ST Ngày: 08- 02- 2023 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Thế Hùng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Thực
2. Bà Trần Thị Nơi
Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Đình Trường- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà tham gia phiên toà: ông Nguyễn Văn Kiên- Kiểm sát viên
Ngày 08 tháng 02 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 382/2022/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 11 năm 2022 về việc: ly hôn, tranh chấp về nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2023/QĐXX-ST ngày 17 tháng 01 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: anh Nguyễn Thành L, sinh năm 1989 Địa chỉ: thôn V, xã D, huyện H, tỉnh Thái Bình
2. Bị đơn: chị Khúc Thị H, sinh năm 1991 Đăng ký HKTT: thôn V, xã Di, huyện H, tỉnh Thái Bình Chỗ ở hiện nay: thôn V, xã C, huyện H, tỉnh Thái Bình
(Anh L và chị H đều có mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ly hôn, bản tự khai và tại phiên tòa, nguyên đơn là anh Nguyễn Thành L trình bày:
Anh kết hôn tự nguyện với chị Khúc Thị H và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Duyên Hải, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình vào ngày 29/12/2015. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận được khoảng 03 năm thì phát sinh mâu thuẫn trong cuộc sống thường ngày. Đến đầu năm 2022, vợ chồng mâu thuẫn căng thẳng do quan điểm sống bất đồng; mâu thuẫn giữa con dâu và gia đình nhà chồng. Vợ chồng đã ly thân từ đầu năm 2022 cho đến nay không quan tâm đến nhau. Anh xác định tình cảm vợ chồng không còn và xin ly hôn chị H.
Anh và chị H có 02 con chung là Nguyễn Gia Ph, sinh ngày 01/9/2015 và Nguyễn Hương G, sinh ngày 20/9/2017. Sau khi ly hôn, anh xin trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung và không yêu cầu chị H phải góp cấp dưỡng nuôi hai con chung cho anh. Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết về quan hệ tài sản.
Bị đơn là chị Khúc Thị H trong bản tự khai và tại phiên tòa đã xác nhận về thời gian, điều kiện, hoàn cảnh kết hôn đúng như anh L trình bày. Sau khi kết hôn, trong quá trình chung sống, anh L có quan hệ bất chính với người phụ nữ khác, chị đã nhiều lần nhắc nhở nhưng anh L không nghe. Chị không đồng ý ly hôn với anh L vì thương các con mà chị muốn ly thân cho đến khi các con đủ 18 tuổi chị mới nhất trí ly hôn. Trường hợp anh L cương quyết ly hôn thì chị xin trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Hương G, sinh ngày 20/9/2017 còn để anh L nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Gia Ph, sinh ngày 01/9/2015. Chị và anh L không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau. Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến tại phiên toà: Quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đều tuân thủ đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; các Điều 28, 35, 39, 147, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; về quan hệ hôn nhân: cần xử cho anh L được ly hôn chị H; về quan hệ con chung: cần xử giao cho anh L trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Gia Ph; giao cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Hương G. Anh L và chị H không phải góp cấp dưỡng nuôi chung cho nhau; về quan hệ tài sản: không đặt ra giải quyết. Anh L phải chịu án phí hôn nhân gia đình theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về nội dung: Quan hệ hôn nhân giữa anh Nguyễn Thành L và chị Khúc Thị H xây dựng trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống không hòa thuận do nhiều nguyên nhân như các đương sự đã trình bày. Anh L cương quyết ly hôn còn chị H không đồng ý ly hôn nhưng chị H muốn ly thân và không có giải pháp nào để đoàn tụ vợ chồng. Xét mâu thuẫn giữa anh L và chị H đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, cần xử cho anh L được ly hôn chị Hồng là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về quan hệ con chung: xét nguyện vọng nuôi dưỡng con chung của anh L và chị H, thấy: anh L và chị Hồng đều có điều kiện nuôi dưỡng con chung. Anh L xin nuôi con trai là Nguyễn Gia Ph và con Ph cũng có nguyện vọng ở với bố. Cần giao con Ph cho anh L và giao con gái là Nguyễn Hương G cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng; anh L và chị H không phải góp cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau là phù hợp với các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình
Về quan hệ tài sản: Anh L và chị H đều không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
Về án phí: Anh L phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; các Điều 28, 35, 39, 147, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.
1. Về quan hệ hôn nhân: xử cho anh Nguyễn Thành L được ly hôn chị Khúc Thị H.
2. Về quan hệ con chung: xử giao cho anh Nguyễn Thành L trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Gia Ph, sinh ngày 01/9/2015. Giao cho chị Khúc Thị H trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Hương G, sinh ngày 20/9/2017. Anh L và chị H không phải góp cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau và đều có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: anh Nguyễn Thành L phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Chuyển số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) anh L đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0005919 ngày 23/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình thành tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: anh Nguyễn Thành L và chị Khúc Thị H có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Hưng Hà, - Các đương sự, - Chi cục THA dân sự H.Hưng Hà, - UBND xã Duyên Hải, - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thế Hùng |