vanban.org

Bản án 10/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Hoàng Thị Thúy V và ông Hoàng Văn T.

Về con chung: Con chung đã trưởng thành nên không xem xét giải quyết. Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hoàng Thị Thúy V"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Hoàng Thị Thúy V và ông Hoàng Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐÌNH LẬP
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2023/HNGĐ-ST
Ngày 06-9-2023
V/v Không công nhận vợ chồng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÌNH LẬP, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lành Thị Vệ.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lộc Thị Hải;

Ông Nguyễn Thành Trung.

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Văn Trường - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Ông Nông Đức Hoài - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 9 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 33/2023/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 7 năm 2023 về việc không công nhận vợ chồng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Hoàng Thị Thúy V, sinh năm 1976; địa chỉ: Thôn B, xã Đ, huyện L, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.

2. Bị đơn: Ông Hoàng Văn T, sinh năm 1968; địa chỉ: Thôn B, xã Đ, huyện L, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 03/7/2023, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Hoàng Thị Thúy V trình bày: Bà và ông Hoàng Văn T kết hôn với nhau từ năm 1993. Trước khi kết hôn ông bà có được tìm hiểu nhau, tự nguyện đến với nhau không ai ép buộc và được hai bên gia đình tổ chức cưới theo phong tục của địa phương. Sau khi cưới ông bà có đi đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện L nhưng hiện nay đã làm mất Giấy chứng nhận kết hôn. Sau khi kết hôn ông Hoàng Văn T thường xuyên công tác xa nhà nhưng tình cảm vợ chồng vẫn hạnh phúc không có mâu thuẫn lớn xảy ra. Đến năm 1997 ông Hoàng Văn T chuyển công tác về gần nhà thì vợ chồng bắt đầu xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân do vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, thường xuyên xảy ra cãi nhau. Ông Hoàng Văn T có tính bảo thủ không nghe lời khuyên bảo của ai nên càng ngày mâu thuẫn càng trở nên trầm trọng. Năm 2010 ông Hoàng Văn T đã làm đơn yêu cầu ly hôn gửi Tòa án nhân dân huyện Đình Lập giải quyết nhưng sau đó ông Hoàng Văn T rút đơn nên việc ly hôn của ông bà chưa giải quyết được. Từ năm 2017 đến nay vợ chồng đã sống ly thân và không còn quan tâm gì đến nhau. Nay bà Hoàng Thị Thúy V xác định không còn tình cảm vợ chồng với ông Hoàng Văn T nên đề nghị Tòa án giải quyết không công nhận là vợ chồng. Về con chung: Vợ chồng có 01 người con chung tên là Hoàng Minh H, sinh ngày 03/10/1998. Hiện nay đã trưởng thành và đã kết hôn nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết; về nợ chung: Không có.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 09/8/2023 bị đơn ông Hoàng Văn T trình bày: Ông và bà Hoàng Thị Thúy V đã có thời gian tìm hiểu nhau, hai bên tự nguyện tiến tới hôn nhân và được hai bên gia đình tổ chức cưới theo phong tục của địa phương. Hai ông bà có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện L, tỉnh Lạng Sơn, giấy chứng nhận kết hôn là do bà Hoàng Thị Thúy V giữ nên không nhớ thời điểm kết hôn và không cung cấp được cho Tòa án Giấy chứng nhận kết hôn. Sau khi kết hôn hai vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc, cùng nhau chăm lo làm ăn, nuôi dạy con cái. Quá trình chung sống vợ chồng thỉnh thoảng cũng có những mâu thuẫn nhỏ nhưng sau đó hai bên đã tự hàn gắn với nhau. Hiện nay ông xác định vẫn còn tình cảm với bà Hoàng Thị Thúy V, tuy nhiên ông tôn trọng yêu cầu ly hôn của bà Hoàng Thị Thúy V nên nhất trí ly hôn với bà Hoàng Thị Thúy V. Về con chung: Vợ chồng có 01 người con chung tên là Hoàng Minh H, sinh ngày 03/10/1998. Hiện nay đã trưởng thành và đã kết hôn nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết; về nợ chung: Không có.

Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa: Từ khi thụ lý vụ án đến trước khi xét xử, Thẩm phán đã tiến hành tố tụng đúng trình tự thủ tục, tiến hành thu thập chứng cứ, hướng dẫn đương sự viết bản tự khai, tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, quyết định đưa vụ án ra xét xử, tống đạt các văn bản tố tụng đúng theo quy định. Quá trình tiến hành tố tụng tại phiên tòa Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án thực hiện đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ khi tham gia tố tụng theo quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đã được Tòa án tiến hành lấy lời khai và có yêu cầu Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt. Về quan điểm giải quyết vụ án, đại diện Viện kiểm sát sau khi phân tích, đánh giá nội dung vụ án đã đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Hoàng Thị Thúy V, tuyên không công nhận bà Hoàng Thị Thúy V và ông Hoàng Văn T là vợ chồng. Về con chung, tài sản chung và nợ chung đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Hoàng Thị Thúy V và ông Hoàng Văn T cùng có hộ khẩu và cư trú tại: Thôn B, xã Đ, huyện L, tỉnh Lạng Sơn nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thủ tục tố tụng: Phiên tòa mở lần đầu vắng mặt bị đơn ông Hoàng Văn T nhưng đã có lời khai trong hồ sơ vụ án và đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó, căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Hoàng Thị Thúy V và ông Hoàng Văn T chung sống với nhau từ năm 1993. Trước khi về chung sống với nhau ông, bà đã có thời gian tìm hiểu nhau và được hai bên gia đình tổ chức cưới theo phong tục tập quán của địa phương. Bà Hoàng Thị Thúy V và ông Hoàng Văn T cùng thừa nhận vợ chồng có đi đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện L, tỉnh Lạng Sơn, nhưng do thời gian quá lâu nên ông, bà không còn lưu giữ giấy chứng nhận kết hôn. Tòa án đã tiến hành xác minh tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện L, tỉnh Lạng Sơn là nơi ông bà cư trú và là nơi ông bà cho rằng đã làm thủ tục đăng ký kết hôn ở đó, tuy nhiên Ủy ban nhân dân xã Đ xác nhận sổ đăng ký kết hôn thời kỳ năm 1993 không còn lưu trữ, qua kiểm tra sổ đăng ký kết hôn còn lưu trữ cho đến nay không có tên bà Hoàng Thị Thúy V và ông Hoàng Văn T. Do đó, lời khai của bà Hoàng Thị Thúy V và ông Hoàng Văn T cho rằng có đăng ký kết hôn là không có cơ sở. Hội đồng xét xử xét thấy, bà Hoàng Thị Thúy V và ông Hoàng Văn T chung sống với nhau từ năm 1993 đến nay không có đăng ký kết hôn theo quy định nên đã vi phạm Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình. Như vậy hôn nhân giữa bà Hoàng Thị Thúy V và ông Hoàng Văn T không được pháp luật thừa nhận. Quá trình chung sống, bà Hoàng Thị Thúy V và ông Hoàng Văn T đã có mâu thuẫn và đã ly thân từ năm 2017 đến nay, ông Hoàng Văn T cũng nhất trí với yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng của bà Hoàng Thị Thúy V. Căn cứ vào khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình cần tuyên bố không công nhận vợ chồng giữa bà Hoàng Thị Thúy V và ông Hoàng Văn T.

Về con chung: Bà Hoàng Thị Thúy V và ông Hoàng Văn T có 01 con chung tên là Hoàng Minh H, sinh ngày 03/10/1998. Hiện nay đã trưởng thành và đã kết hôn, bà Hoàng Thị Thúy V và ông Hoàng Văn T không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về nợ chung: Bà Hoàng Thị Thúy V và ông Hoàng Văn T đều trình bày là không có nợ chung.

Về án phí: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, nguyên đơn bà Hoàng Thị Thúy V phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn tại phiên tòa là có cơ sở, phù hợp với các quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào khoản 8 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228; Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Hoàng Thị Thúy V và ông Hoàng Văn T.

2. Về con chung: Con chung đã trưởng thành nên không xem xét giải quyết.

3. Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.

4. Về nợ chung: Không có.

5. Về án phí: Bà Hoàng Thị Thúy V phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước. Tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí mà bà Hoàng Thị Thúy V đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0003762, ngày 20 tháng 7 năm 2023. Xác nhận bà Hoàng Thị Thúy V đã nộp đủ tiền án phí.

6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ