vanban.org

Bản án 10/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đặng Thị Kim L đối với anh Vũ Quốc T. Chị Đặng Thị Kim L được ly hôn với anh Vũ Quốc T.

Về con chung: Giao cho chị Đặng Thị Kim L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên Vũ Quang TH, sinh năm 05/7/2006. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con vì chị L không yêu cầu. Đối với con chung Vũ Thị Phương Tr đã trưởng thành nên không đặt ra giải quyết. Anh Vũ Quốc T có qu… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "xin ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đặng Thị Kim L đối với anh Vũ Quốc T. Chị Đặng Thị Kim L được ly hôn với anh Vũ Quốc T.
  • Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2023/HNGĐ-ST
08-02-2023
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim Nương.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Thái Văn Lộc.

2. Ông Nguyễn Văn Vân.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan - Thư ký Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huệ Thư - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 02 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 375/2022/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 10 năm 2022 về tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 129/2022/QĐXXST – HNGĐ ngày 26 tháng 12 năm 2022. Quyết định hoãn phiên tòa số: 02/2023/QĐST-DS ngày 12 tháng 01 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Đặng Thị Kim L, sinh năm 1977; (Vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ A, khu phố A, thị trấn C T, huyện C T, tỉnh Tây Ninh.

- Bị đơn: Anh Vũ Quốc T, sinh năm 1973 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ A, khu phố A, thị trấn C T, huyện C T, tỉnh Tây Ninh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 07 tháng 10 năm 2022 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Đặng Thị Kim L trình bày:

Chị và anh Vũ Quốc T chung sống với nhau vào năm 1999 đến ngày 25/09/1999 đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Châu Thành, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh. Vợ chồng chị chung sống hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do anh T đi làm không đưa tiền phụ chị nuôi con, không quan tâm đến gia đình và thường xuyên đi uống rượu về chửi. Vợ chồng ly thân từ năm 2019 đến nay khoảng 04 năm. Do đó vợ chồng bất đồng quan điểm sống mâu thuẫn ngày càng trầm T không thể gàn gắn được. Nay chị thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị xin ly hôn với anh T.

Về con chung: Vợ chồng chị có 02 con chung tên Vũ Thị Phương Tr, sinh ngày 20/01/2001 và Vũ Quang TH, sinh năm 05/7/2006; Cháu trinh đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối với con chung Thuận hiện nay đang sống chung nhà với chị, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung. Chị không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Vũ Quốc T được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không đến nên không có lời trình bày của anh.

Tại phiên tòa, chị L, anh T vắng mặt nên không có ý kiến trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo thủ tục tố tụng dân sự, không có vi phạm. Các đương sự tham gia tố tụng trong vụ án chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đặng Thị Kim L đối với anh Vũ Quốc T, có cơ sở chấp nhận cho chị L và anh T được ly hôn. Về con chung: Giao con chung tên Vũ Quang TH, sinh năm 05/7/2006 cho chị Đặng Thị Kim L được trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Vũ Quốc T không phải cấp dưỡng nuôi con vì chị L không yêu cầu. Đối với Vũ Thị Phương Tr đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ghi nhận tài sản chung không yêu cầu Tòa án giải quyết, nợ chung không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà và ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1].Về tố tụng: Chị Đặng Thị Kim L có đơn xin xét xử vắng mặt. Anh Vũ Quốc T đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai vắng mặt tại phiên tòa, Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt chị L, anh T.

. Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Thị Kim L và anh Vũ Quốc T chung sống với nhau năm 1999 đến ngày 25/09/1999 đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Châu Thành, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ.

. Về mâu thuẫn của vợ chồng: Chị Đặng Thị Kim L trình bày trong biên bản hòa giải ngày 02/12/2022: Trong quá trình sống chung, anh, chị thường bất đồng ý kiến, không đồng chung quan điểm. Anh T đi làm không đưa tiền phụ chị nuôi con, không quan tâm đến gia đình và thường xuyên đi uống rượu về chửi. Vợ chồng ly thân từ năm 2019 đến nay khoảng 04 năm. Nay chị thấy mâu thuẫn của vợ chồng là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, chị xin được ly hôn với anh Vũ Quốc T.

. Đối với anh Vũ Quốc T đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng và triệu tập hợp lệ nhiều lần để làm việc nhưng anh vắng mặt không đến phiên tòa nên không có ý kiến trình bày. Điều đó cho thấy anh T bỏ mặc và không muốn hàn gắn tình cảm với chị L để vợ chồng cùng nuôi dưỡng con. Từ đó cho thấy tình trạng hôn nhân giữa chị L và anh T đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu khởi kiện của chị L xin ly hôn với anh T theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 là có căn cứ.

. Về con chung: Vợ chồng chị L và anh T có 02 con chung tên Vũ Thị Phương Tr, sinh ngày 20/01/2001 và Vũ Quang TH, sinh năm 05/7/2006; Cháu trinh đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối với con chung Thuận hiện nay đang sống chung nhà với chị L, chị L yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung. Chị không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy anh T không đến phiên tòa nên không ghi nhận được ý kiến. Chị L có cư trú ổn định và thu nhập ổn định bảo đảm cuộc sống và quyền lợi về mọi mặt cho con, nên căn cứ khoản 2 Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 giao cháu Thuận cho chị L trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng. Cháu Trinh đã trưởng Thành nên không giải quyết là phù hợp.

. Về tài sản chung: Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết, nợ chung chị xác định không có nên không đặt ra giải quyết.

. Về án phí: Do chị Đặng Thị Kim L là nguyên đơn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.

Anh Vũ Quốc T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56; Điều 81; 82; 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đặng Thị Kim L đối với anh Vũ Quốc T. Chị Đặng Thị Kim L được ly hôn với anh Vũ Quốc T.

2. Về con chung: Giao cho chị Đặng Thị Kim L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên Vũ Quang TH, sinh năm 05/7/2006. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con vì chị L không yêu cầu. Đối với con chung Vũ Thị Phương Tr đã trưởng thành nên không đặt ra giải quyết.

Anh Vũ Quốc T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung sau khi ly hôn mà không ai được cản trở anh T thực hiện quyền này.

3. Về tài sản chung: Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra giải quyết;

4. Về nợ chung: Không có, nên không đặt ra giải quyết.

5. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Chị Đặng Thị Kim L phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0017825 ngày 14/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh. Chị Đặng Thị Kim L đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm. Ghi nhận chị L đã nộp xong.

Anh Vũ Quốc T không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên toà hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ