- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp HĐ tín dụng"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP N A.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 143 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK SONG TỈNH ĐẮK NÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 10/2023/DSST Ngày 17-4-2023 “V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK SONG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Phong.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hồ Thị Thu Uyển và bà Võ Thị Thanh Huệ.
Thư ký phiên toà: Bà Võ Thị Nhàn – Thư ký Toà án nhân dân huyện Đắk Song.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lý – Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đăk Song xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 247/2022/TLST-DS ngày 05 tháng 10 năm 2022 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2023/QĐXXST-DS, ngày 08 tháng 03 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 21/2023/QĐST-DS ngày 31 tháng 03 năm 2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP N A
Địa chỉ: 201-203 M, phường N, quận P, TP.Hồ Chí Minh
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Vũ Văn Liệu – chức vụ: Chuyên viên xử lý nợ, Công ty TNHH MTV Quản lý nợ và khai thác tài sản, Ngân hàng TMCP N A, là người đại diện theo văn bản ủy quyền số 336B/2022/UQ-AMC ngày 30/5/2022 – có mặt.
Địa chỉ: 168 M, phường N, TP. P, tỉnh Đắk Lắk
Bị đơn: Ông Phạm Quốc V và bà Đặng Thị Bích Th – vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn M, xã N, huyện P, tỉnh Đắk Nông.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các văn bản khác trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngày 04/09/2018, Ngân hàng TMCP N A - Chi nhánh Đắk Lắk và ông Phạm Quốc V, bà Đặng Thị Bích Th ký kết Hợp đồng tín dụng số: 0799/2018/502-CV ngày 04/09/2018 và giấy nhận nợ số 01/GNN-0799/2018/502-CV ngày 06/09/2018, theo đó Ngân hàng cho ông V bà Th vay số tiền 550.000.000 đồng (Năm trăm năm mươi triệu đồng). Mục đích sử dụng: Bổ sung các khoản mục SXNN (Chăm sóc cà phê, tiêu, trồng mới tiêu,…). Lãi suất trong hạn 11 %/năm; Lãi suất được điều chỉnh 03 tháng/lần; Lãi suất quá hạn: Bằng 150% lãi suất trong hạn; Lãi chậm trả lãi: 10%/năm. Thời hạn vay: 12 tháng (Từ ngày 06/09/2018 đến ngày 06/09/2019).
Để đảm bảo khoản vay ngày 05/9/2018 ông V bà Th ký hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0401/2018/502-BĐ công chứng ngày 05/9/2018 để thế chấp tài sản là thửa đất số 14, tờ bản đồ số ĐL tọa lạc tại Thôn Boong Ring, xã Nâm N'Jang, huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BX 950581 do UBND Huyện Đắk Song cấp ngày 04/02/2015; thửa đất số 46, tờ bản đồ số 4 tọa lạc tại Thôn Boong Ring, xã Nâm N'Jang, huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CN 284806 do UBND Huyện Đắk Song cấp ngày 07/08/2018.
Quá trình thực hiện hợp đồng, ông V, bà Th đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ gốc và nợ lãi phát sinh. Mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần đôn đốc, tạo điều kiện để ông V, bà Th trả nợ nhưng ông V, bà Th vẫn không thực hiện. Tính đến ngày 17/4/2023 ông V, bà Th còn nợ số tiền gốc 549.999.684 đồng, lãi trong hạn 31.862.954 đồng, lãi chậm trả lãi 11.513.878 đồng, lãi quá hạn 342.849.633 đồng. Tổng gốc và lãi 936.226.149 đồng. Do đó Ngân hàng TMCP N A khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông V, bà Th phải trả số tiền nợ gốc 549.999.684 đồng, lãi trong hạn 31.862.954 đồng, lãi chậm trả lãi 11.513.878 đồng, lãi quá hạn 342.849.633 đồng. Tổng gốc và lãi 936.226.149 đồng.
Yêu cầu ông V, bà Th phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh sau ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi trả xong theo lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng số tín dụng số: 0799/2018/502-CV ngày 04/09/2018 và giấy nhận nợ số 01/GNN-0799/2018/502-CV ngày 06/09/2018.
Trường hợp ông V, bà Th không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 0401/2018/502-BĐ ngày 05/9/2018.
Trường hợp số tiền thu được từ tài sản đảm bảo không đủ để thanh toán khoản nợ thì ông V, bà Th phải tiếp tục trả số nợ còn lại cho đến khi thanh toán hết nợ cho Ngân hàng TMCP N A.
Đối với bị đơn ông Phạm Quốc V và bà Đặng Thị Bích Th: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập ông V, bà Th nhiều lần nhưng ông bà không đến Tòa án để làm việc. Tòa án tiến hành xác minh tại chính quyền địa phương được biết ông V, bà Th có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn Boong Rinh, xã Nâm N’jang, huyện Đăk Song, tỉnh Đăk Nông. Hiện nay ông V, bà Th không có mặt tại địa phương. Tòa án đã niêm yết các văn bản tố tụng và thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng để đưa vụ án ra xét xử theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự và về nội dung vụ án phát biểu như sau:
Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Thư ký Tòa án và những người tham gia tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng quy định của pháp luật và việc thụ lý giải quyết vụ án đảm bảo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng trong vụ án: Nguyên đơn chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn chấp hành chưa đúng theo quy định của bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đại diện VKSND huyện Đăk Song đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP N A, buộc ông Phạm Quốc V và bà Đặng Thị Bích Th phải trả cho Ngân hàng TMCP N A số tiền nợ gốc 549.999.684 đồng và tiền lãi theo hợp đồng tín dụng các bên ký kết.
Yêu cầu ông V, bà Th phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh sau ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi trả xong theo lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng số tín dụng số: 0799/2018/502-CV ngày 04/09/2018 và giấy nhận nợ số 01/GNN-0799/2018/502-CV ngày 06/09/2018.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật Ngân hàng N A có quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 0401/2018/502-BĐ ngày 05/9/2018.
Trường hợp số tiền thu được từ tài sản đảm bảo không đủ để thanh toán khoản nợ thì ông V, bà Th phải tiếp tục trả số nợ còn lại cho đến khi thanh toán hết nợ cho Ngân hàng TMCP N A.
Các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án: Bản sao y Hồ sơ pháp lý của Ngân hàng, hồ sơ Tín dụng, hồ sơ khách hàng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử xét thấy:
Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Ngân hàng TMCP N A khởi kiện yêu cầu ông Phạm Quốc V và bà Đặng Thị Bích Th trả số tiền nợ gốc 549.999.684 đồng và tiền lãi theo hợp đồng tín dụng đã ký kết nên tranh chấp được xác định là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn ông V bà Th cư trú tại thôn M, xã N, huyện P, tỉnh Đắk Nông nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP N A và hợp đồng tín dụng các bên ký kết, HĐXX xét thấy: Ngày 04/09/2018, Ngân hàng TMCP N A - Chi nhánh Đắk Lắk và ông Phạm Quốc V, bà Đặng Thị Bích Th ký kết Hợp đồng tín dụng số: 0799/2018/502-CV ngày 04/09/2018 và giấy nhận nợ số 01/GNN-0799/2018/502-CV ngày 06/09/2018, theo đó Ngân hàng cho ông V bà Th vay số tiền 550.000.000 đồng (Năm trăm năm mươi triệu đồng). Mục đích sử dụng: Bổ sung các khoản mục SXNN (Chăm sóc cà phê, tiêu, trồng mới tiêu,…). Lãi suất trong hạn 11 %/năm; Lãi suất được điều chỉnh 03 tháng/lần; Lãi suất quá hạn: Bằng 150% lãi suất trong hạn; Lãi chậm trả lãi: 10%/năm. Thời hạn vay: 12 tháng (Từ ngày 06/09/2018 đến ngày 06/09/2019). Để đảm bảo khoản vay ngày 05/9/2018 ông V bà Th ký kết hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0401/2018/502-BĐ công chứng ngày 05/9/2018 để thế chấp tài sản là: Thửa đất số 14, tờ bản đồ số ĐL tọa lạc tại Thôn Boong Ring, xã Nâm N'Jang, huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BX 950581 do UBND Huyện Đắk Song cấp ngày 04/02/2015. Thửa đất số 46, tờ bản đồ số 4 tọa lạc tại Thôn Boong Ring, xã Nâm N'Jang, huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CN 284806 do UBND Huyện Đắk Song cấp ngày 07/08/2018.
Từ thời điểm nhận nợ đến nay ông V, bà Th không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng. Tính đến ngày 17/4/2023 ông V, bà Th còn nợ tiieenf gốc 549.999.684 đồng, lãi trong hạn 31.862.954 đồng, lãi chậm trả lãi 11.513.878 đồng, lãi quá hạn 342.849.633 đồng. Tổng gốc và lãi 936.226.149 đồng. Như vậy ông V, bà Th đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng tín dụng đã ký kết.
Xét yêu cầu xử lý tài sản thế chấp của Ngân hàng TMCP N A:
Xét hợp đồng thế chấp QSDĐ 0401/2018/502-BĐ ngày 05/9/2018, HĐXX xét thấy hợp đồng thế chấp được lập thành văn bản, các bên ký kết trên cơ sở tự nguyện, không bị ép buộc, hợp đồng được công chứng tại Văn phòng công chứng là đúng quy định pháp luật quy định tại Điều 317, Điều 318, Điều 319 Bộ luật dân sự, nên hợp đồng đã phát sinh hiệu lực giữa các bên.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thành lập Hội đồng xem xét thẩm định tại chỗ đối với Thửa đất số 14, tờ bản đồ số ĐL tọa lạc tại Thôn Boong Ring, xã Nâm N'Jang, huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BX 950581 do UBND Huyện Đắk Song cấp ngày 04/02/2015.
Thửa đất số 46, tờ bản đồ số 4 tọa lạc tại Thôn Boong Ring, xã Nâm N'Jang, huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CN 284806 do UBND Huyện Đắk Song cấp ngày 07/08/2018. Qua xem xét thẩm định tại chỗ xác định các thửa đất trên thực tế đúng vị trí, diện tích, tứ cận theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp. Vì vậy, HĐXX xét thấy yêu cầu xử lý tài sản thế chấp của Ngân hàng TMCP N A là có căn cứ chấp nhận.
Từ những nhận định trên, HĐXX xét thấy cần chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP N A, buộc ông Phạm Quốc V và bà Đặng Thị Bích Th có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP N A số tiền nợ gốc 549.999.684 đồng, lãi trong hạn 31.862.954 đồng, lãi chậm trả lãi 11.513.878 đồng, lãi quá hạn 342.849.633 đồng. Tổng gốc và lãi 936.226.149 đồng.
Buộc ông V, bà Th phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh sau ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi trả xong theo lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng số tín dụng số: 0799/2018/502-CV ngày 04/09/2018 và giấy nhận nợ số 01/GNN-0799/2018/502-CV ngày 06/09/2018.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật Ngân hàng N A có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 0401/2018/502-BĐ ngày 05/9/2018.
Trường hợp số tiền thu được từ tài sản đảm bảo không đủ để thanh toán khoản nợ thì ông V, bà Th phải tiếp tục trả số nợ còn lại cho đến khi thanh toán hết nợ cho Ngân hàng TMCP N A.
Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 3.000.000 đồng, do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận nên bị đơn ông V, bà Th phải chịu toàn bộ chi phí trên. Ngân hàng TMCP N A đã nộp tạm ứng số tiền trên. Buộc ông V, bà Th phải trả cho Ngân hàng TMCP N A 3.000.000 đồng.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận nên bị đơn ông V, bà Th phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm là 40.086.784 đồng. Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP N A số tiền 18.847.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0001660 ngày 05/10/2022 tại Chi cục THA Dân sự huyện Đăk Song, tỉnh Đăk Nông.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên :
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 143; Điều 147; khoản 2 Điều 227; Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 91; Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 299; Điều 317; Điều 320; Điều 322; Điều 322; Điều 323; Điều 385; Điều 463; Điều 466; Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP N A.
1.1 Buộc ông Phạm Quốc V, bà Đặng Thị Bích Th phải trả cho Ngân hàng TMCP N A số tiền nợ gốc 549.999.684 đồng, lãi trong hạn 31.862.954 đồng, lãi chậm trả lãi 11.513.878 đồng, lãi quá hạn 342.849.633 đồng. Tổng gốc và lãi: 936.226.149 đồng (Chín trăm ba mươi sáu triệu, hai trăm hai mươi sáu nghìn, một trăm bốn mươi chín đồng).
1.2 Buộc ông V, bà Th phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh sau ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi trả xong theo lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng số tín dụng số: 0799/2018/502-CV ngày 04/09/2018 và giấy nhận nợ số 01/GNN-0799/2018/502-CV ngày 06/09/2018.
1.3 Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật Ngân hàng TMCP N A có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 0401/2018/502-BĐ ngày 05/9/2018.
1.4 Trường hợp số tiền thu được từ tài sản đảm bảo không đủ để thanh toán khoản nợ thì ông V, bà Th phải tiếp tục trả số nợ còn lại cho đến khi thanh toán hết nợ cho Ngân hàng TMCP N A.
2. Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 3.000.000 đồng, do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận nên bị đơn ông V, bà Th phải chịu toàn bộ chi phí trên. Ngân hàng TMCP N A đã nộp tạm ứng số tiền trên. Buộc ông V, bà Th phải trả cho Ngân hàng TMCP N A 3.000.000 đồng.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc ông Phạm Quốc V và bà Đặng Thị Bích Th phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm là 40.086.784 đồng. Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP N A số tiền 18.847.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0001660 ngày 05/10/2022 tại Chi cục THA Dân sự huyện Đăk Song, tỉnh Đăk Nông.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn có quyền kháng cáo bản trong trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bán án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.”
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đăk Nông; - VKSND huyện Đăk Song; - Chi cục THA huyện Đăk Song; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà Nguyễn Thanh Phong |