vanban.org

Bản án 10/2023/DS — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: 1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Mai Thị Tương, buộc anh Lưu Văn Tiêm có nghĩa vụ trả nợ cho bà Tương số tiền nợ gốc là 150.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, nếu người phải thi hành án không thi hành, thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015. 2/ Về án phí: Anh Lư… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Mai Thị T-Lưu Văn T1"
  • Tòa quyết gì? Xử: 1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Mai Thị Tương, buộc anh Lưu Văn Tiêm có nghĩa vụ trả nợ cho bà Tương số tiền nợ gốc là 150.
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 24 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2023/DS-ST
Ngày: 24-8-2023
V/v: tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGA SƠN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Huệ

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Dương Thị Thoa

2. Ông Nguyễn Văn Hạnh

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Hải Anh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

Ngày 24 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Nga Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 13/2023/TLST-DS ngày 01 tháng 6 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2023 /QĐXX-ST ngày 02 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:

1/ Nguyên đơn: Bà Mai Thị Tương - Sinh năm 1954.

Địa chỉ: Thôn Tri Thiện 1, xã Nga Thiện, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa; (có mặt).

2/ Bị đơn: Anh Lưu Văn Tiêm - Sinh năm 1989;

Địa chỉ: Thôn Đô Lương, xã Nga Thủy, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa; (có mặt).

3/ Người làm chứng: Anh Phạm Văn Thỏa - Sinh năm 1975 và Nguyễn Thị Trang - Sinh năm 1981; Địa chỉ: Tiểu khu Thắng Thịnh, thị trấn Nga Sơn, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa; (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện đề ngày 31/5/2023, bản tự khai, nguyên đơn bà Mai Thị Tương trình bày: xuất phát từ mối quan hệ anh Tiêm trước là chồng của chị Mai Thị Dịu (con gái bà). Hiện tại, anh Tiêm và chị Dịu đã ly hôn. Ngày 09/5/2022, anh Tiêm có vay bà số tiền là 150.000.000đ, không thỏa thuận về thời hạn trả và lãi suất. Khi cho anh Tiêm vay tiền, hai bên viết giấy nhận tiền vay, có anh Thỏa và chị Trang là cậu mợ của anh Tiêm làm chứng và ký vào giấy vay cùng anh Tiêm. Về thời hạn trả: bà và anh Tiêm thỏa thuận bằng miệng khi nào cần thì báo trước vài ngày để anh Tiêm có trách nhiệm trả số tiền vay trên. Khi bà cần tiền, bà đã gọi điện nhiều lần báo cho anh Tiêm biết để thu xếp trả nợ nhưng anh Tiêm cố tình không nghe máy và không có ý kiến gì. Nay để đảm bảo quyền lợi, cho bà, bà đề nghị Tòa án giải quyết buộc anh Tiêm phải trả số tiền đã vay theo giấy vay tiền trên cho bà; về lãi suất bà không yêu cầu anh Tiêm trả lãi.

* Người làm chứng chị Trang, anh Thỏa trình bày: Anh, chị có mối quan hệ là cậu, mợ của anh Tiêm. Vợ chồng anh, chị có ký xác nhận vào mục người làm chứng trong giấy vay tiền giữa anh Tiêm và bà Mai Thị Tương số tiền 150.000.000đ. Khi anh Tiêm viết giấy vay tiền cho bà Tương, anh, chị thấy chị Mai Thị Dịu đưa tiền cho anh Tiêm, còn tiền đó là của ai thì anh, chị không biết rõ. Anh, chị cam đoan chữ ký của vợ chồng trong giấy vay nợ là đúng và cam đoan lời khai là đúng sự thật. Đề nghị Tòa án xem xét giải quyết. Đồng thời, anh, chị xin được xét xử vắng mặt.

Đối với bị đơn: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng khác theo quy định của pháp luật, nhưng anh Tiêm cố tình vắng mặt nên không có lời khai trong hồ sơ vụ án.

Tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, anh Tiêm vắng mặt nên việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ chỉ tiến hành được với nguyên đơn, đồng thời Tòa án không tiến hành hòa giải được.

Để đảm bảo quyền lợi của các đương sự trong vụ án,Tòa án đã đưa vụ án ra xét xử theo quy định.

Tại phiên tòa hôm nay, bà Tương vẫn giữ nguyên nội dung yêu cầu. Đối với bị đơn anh Tiêm có ý kiến: anh đồng ý số tiền anh đã vay bà Tiêm, khi vay anh là người viết giấy vay có chữ ký của cậu Thỏa, mợ Trang làm chứng vào giấy vay tiền. Do làm ăn không thuận lợi nên anh chưa có khả năng thu xếp trả nợ cho bà. Việc vay nợ này là của anh không liên quan đến chị Dịu. Bà Tương yêu cầu anh trả nợ 150.000.000đ và không yêu cầu tính lãi anh đồng ý sẽ có trách nhiệm thu xếp trả lại cho bà nhưng anh đề nghị bà Tương cho anh thêm thời gian.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

* Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn.

* Về nội dung vụ án:

Xét yêu cầu của Nguyên đơn: Theo giấy nhận tiền vay, viết tay đề ngày 09/5/2022, anh Tiêm vay bà Tương số tiền 150.000.000đ, không thỏa thuận về thời hạn và lãi suất vay. Việc trả nợ chỉ thỏa thuận miệng khi nào bà Tương cần sẽ báo trước để anh Tiêm thu xếp trả nợ. Do anh Tiêm không có động thái trả nợ, trốn tránh không thực hiện nghĩa vụ trả nợ như cam kết. Bà Tương yêu cầu anh Lưu Văn Tiêm phải trả số tiền đã vay là 150.000.000đ; về lãi suất: bà Tương không yêu cầu anh Tiêm trả lãi cho bà.

Xét số tiền bị đơn vay của nguyên đơn: Hai bên thực hiện việc vay và lập thành văn bản, có chữ ký của người vay anh Lưu Văn Tiêm, người làm người chứng anh Phạm Văn Thỏa và chị Nguyễn Thị Trang; lãi suất: không thỏa thuận. Số tiền anh Tiêm vay là của bà Mai Thị Tương, không liên quan đến chị Dịu. Anh Tiêm đồng ý sẽ có trách nhiệm trả lại số tiền gốc đã vay; về lãi suất bà Tương không yêu cầu, anh Tiêm nhất trí.

Xét việc vay tiền của các đương sự:

Quá trình vay, bị đơn anh Lưu Văn Tiêm cam kết nếu anh không trả được sẽ do pháp luật giải quyết. Mặc dù trên giấy vay các bên không thỏa thuận về thời hạn trả tiền. Tuy nhiên, khi bà Tương cần tiền nguyên đơn đã thông báo cho bị đơn biết để thực hiện nghĩa vụ trả nợ nhưng không được. Bà Tương yêu cầu bị đơn trả tiền gốc đã vay là 150.000.000đ; về lãi suất bà Tương không yêu cầu anh Tiêm phải trả cho bà. Đối với bị đơn anh Tiêm thống nhất về số tiền gốc đã vay của bà Tương; về lãi suất bà Tương không yêu cầu, anh Tiêm đồng ý; về thời gian trả nợ anh xin cho thêm thời gian để thu xếp trả nợ.

Như vậy, bà Tương yêu cầu anh Tiêm phải trả số tiền gốc là 150.000.000đ, là có cơ sở chấp nhận. Về lãi suất: bà Tương không yêu cầu anh Tiêm trả lãi nên Hội đồng xét xử miễn xét.

Về án phí: Bà Mai Thị Tương là người cao tuổi và có đơn đề nghị miễn nộp tiền án phí, theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14, ngày 30/12/2016 nên thuộc trường hợp được miễn nộp tiền án phí Tòa án.

Anh Lưu Văn Tiêm phải chịu án phí dân sự sơ thẩm (150.000.000đ x 5%) theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 463; Điều 465; Điều 466; Điều 468 và khoản 1 Điều 469 của Bộ luật dân sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12; điểm b khoản 1 Điều 24; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và danh mục án phí kèm theo.

Xử: 1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Mai Thị Tương, buộc anh Lưu Văn Tiêm có nghĩa vụ trả nợ cho bà Tương số tiền nợ gốc là 150.000.000đ (Một trăm năm mươi triệu đồng)

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, nếu người phải thi hành án không thi hành, thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

2/ Về án phí: Anh Lưu Văn Tiêm phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm (DSST) là 7.500.000đ (Bảy triệu năm trăm nghìn đồng).

3/ Quyền kháng cáo: Bà Mai Thị Tương, anh Lưu Văn Tiêm có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- VKSND huyện Nga Sơn;

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Các đương sự;

- Phòng GĐ- KT Tòa án tỉnh;

- Chi cục THADS huyện Nga Sơn;

- Lưu hồ sơ vụ án.

Lê Thị Huệ

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dƣơng Thị Thoa

Nguyễn Văn Hạnh

Lê Thị Huệ

Cỡ chữ