- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Nguyễn Thị Thúy Hằng - Nguyễn Thành Luôn"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 10/2023/DS-ST Ngày: 24-3-2023 V/v tranh chấp Hợp đồng vay tài sản. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Võ Phong Hiếu;
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Võ Thanh Hải;
2. Ông Đặng Thế Ứng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thành Lộc – Thư ký Toà án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Không.
Ngày 24 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 01/2023/TLST-DS ngày 10 tháng 01 năm 2023 về tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2023/QĐXXST-DS ngày 21tháng 02 năm 2023 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thúy H, sinh năm 1985;
Địa chỉ: Số 361A quốc lộ A, Khu phố X, Phường Y, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.
Người đại diện theo ủy quyền: Anh Trần Đăng K, sinh năm 1996;
Địa chỉ: Ấp H, xã Đ, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.
(Theo văn bản ủy quyền ngày 29 tháng 12 năm 2022)
* Bị đơn:
1/ Anh Nguyễn Thành L, sinh năm 1969;
2/ Chị Phạm Thị Kim C, sinh năm 1972;
Cùng địa chỉ: Ấp L, xã T, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.
(Anh K và anh L có mặt; Chị C vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nội dung trình bày và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thúy H:
Do quan hệ quen biết nên vào ngày 26/12/2021, chị Nguyễn Thị Thúy H có cho anh Nguyễn Thành L và chị Phạm Thị Kim C vay số tiền là 600.000.000 đồng để làm vốn kinh doanh mua bán. Khi vay, các bên không thỏa thuận về tiền lãi và anh L, chị C cam kết sẽ trả đủ số tiền vay cho chị H trong thời hạn là 01 tháng kể từ ngày vay. Để làm tin, anh L có viết một biên nhận đề ngày 26/12/2021.
Khi hết thời hạn 01 tháng như đã thỏa thuận, anh L và chị C không trả lại tiền cho chị. Chị H đã nhiều lần tìm gặp và đòi trả tiền nhưng anh L, chị C đưa ra nhiều lý do, hứa hẹn nhưng rồi sau đó không thực hiện.
Chị Nguyễn Thị Thúy H yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Buộc anh Nguyễn Thành L và chị Phạm Thị Kim C phải liên đới trả cho chị Nguyễn Thị Thúy H số tiền nợ vay gốc là 600.000.000 đồng và tiền lãi tính từ ngày 27/01/2022 cho đến ngày Tòa án xét xử xong vụ án, với mức lãi suất áp dụng là 0,83%/tháng (tiền lãi tạm tính từ ngày 27/01/2022 đến ngày 26/12/2022 là 55.000.000 đồng).
- Yêu cầu trả một lần ngay khi án có hiệu lực pháp luật.
* Nội dung ý kiến trình bày của bị đơn anh Nguyễn Thành L:
Tại bản tự khai ngày 24/3/2023, anh Nguyễn Thành L thừa nhận anh và vợ là chị Phạm Thị Kim C có vay của chị Nguyễn Thị Thúy H số tiền là 600.000.000 đồng vào ngày 26/12/2021. Khi vay các bên thỏa thuận thời hạn vay là 01 tháng với lãi suất vay là 6%/tháng.
Anh có viết 01 biên nhận đề ngày 26/12/2021 cho chị H để làm tin. Anh và chị C đóng lãi cho chị H được một thời gian thì do làm ăn khó khăn nên ngưng không đóng nữa.
Nay đối với yêu cầu khởi kiện của chị H thì anh đồng ý trả số tiền nợ vay là 600.000.000 đồng và số tiền lãi phát sinh tính từ ngày 27/01/2022 cho đến ngày xét xử, với mức lãi suất áp dụng là 0,83%. Anh L xin được trả dần thành 02 lần vào các ngày 20/5/2023 và ngày 20/6/2023.
* Bị đơn chị Phạm Thị Kim C vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án.
* Kết quả phiên họp về chứng cứ và hòa giải như sau:
- Anh Trần Đăng K là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Giữ nguyên toàn bộ lời trình bày và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không có sửa đổi, bổ sung gì khác.
- Bị đơn anh Nguyễn Thành L và chị Phạm Thị Kim C:
+ Đã được Tòa án tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng, tài liệu và chứng cứ trong hồ sơ vụ án;
+ Đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn cố tình vắng mặt nên Tòa án tiến hành phiên họp về chứng cứ vắng mặt anh L, chị C và vụ án không tiến hành hòa giải được.
+ Anh L và chị C không có yêu cầu phản tố, không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện và không giao nộp tài liệu, chứng cứ tại phiên họp chứng cứ.
* Tại phiên toà:
- Anh Trần Đăng K là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thúy H trình bày: Nguyên đơn rút lại một phần yêu cầu khởi kiện. Cụ thể, chị Nguyễn Thị Thúy H chỉ yêu cầu anh Nguyễn Thành L và chị Phạm Thị Kim C phải liên đới trả số tiền nợ vay gốc là 600.000.000 đồng. Không yêu cầu tính lãi.
- Bị đơn anh Nguyễn Thành L trình bày: Đồng ý trả cho chị Nguyễn Thị Thúy H số tiền nợ vay là 600.000.000 đồng nhưng xin được trả dần.
- Bị đơn chị Phạm Thị Kim C đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và kết quả tranh luận tại phiên toà; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu, chứng cứ, ý kiến trình bày của những người tham gia tố tụng. Toà án đi tới những nhận định về vụ án như sau.
* Về thủ tục tố tụng:
Quan hệ tranh chấp:
Chị Nguyễn Thị Thúy H yêu cầu anh Nguyễn Thành L và chị Phạm Thị Kim C phải liên đới trả số tiền nợ vay là 600.000.000 đồng nên đây là tranh chấp về Hợp đồng vay tài sản theo quy định tại Điều 463 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Thẩm quyền giải quyết:
Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản là tranh chấp về hợp đồng dân sự được quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án cấp huyện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn anh Nguyễn Thành L và chị Phạm Thị Kim C cư trú tại địa bàn thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang nên Toà án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang thụ lý và giải quyết theo đúng thẩm quyền được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Thời hiệu khởi kiện:
Các đương sự không có yêu cầu xem xét về thời hiệu khởi kiện nên không đặt ra giải quyết.
Về việc xét xử vắng mặt bị đơn chị Phạm Thị Kim C: Chị C đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị C theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
* Về nội dung vụ án:
Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thúy H yêu cầu anh Nguyễn Thành L và chị Phạm Thị Kim C phải trả số tiền nợ vay là 600.000.000 đồng. Yêu cầu trả một lần.
Xét thấy:
Về nghĩa vụ trả nợ của bên vay:
Tại biên nhận ngày 26/12/2021, anh Nguyễn Thành L đã viết tay thể hiện nội dung có vay của chị Nguyễn Thị Thúy H số tiền là 600.000.000 đồng, thời hạn vay là 01 tháng. Anh L là người trực tiếp viết và ký tên, ghi rõ họ tên vào biên nhận.
Tại bản tự khai đề ngày 24/3/2023, anh Nguyễn Thành L thừa nhận còn nợ chị Nguyễn Thị Thúy H số tiền là 600.000.000 đồng, đây là tình tiết không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Hết thời hạn như đã thoả thuận nhưng anh L không hoàn trả lại tiền nên chị H khởi kiện yêu cầu anh L phải trả số tiền nợ vay là 600.000.000 đồng là hoàn toàn có căn cứ và phù hợp theo quy định tại Điều 463 và khoản 1 Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về trách nhiệm liên đới:
Anh Nguyễn Thành L và chị Phạm Thị Kim C là vợ chồng hợp pháp theo Giấy chứng nhận kết hôn số 69 do Ủy ban nhân dân xã Mỹ Hạnh Trung, huyện Cai Lậy (nay là thị xã Cai Lậy), tỉnh Tiền Giang cấp ngày 24/10/2011.
Số tiền nợ nói trên phát sinh trong thời kỳ hôn nhân, mục đích vay là để làm ăn kinh doanh. Chị Phạm Thị Kim C không trực tiếp vay tiền từ chị Nguyễn Thị Thúy H nhưng trong quá trình giải quyết vụ án, chị C đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các tài liệu, chứng cứ và các văn bản tố tụng nhưng chị C cũng không có ý kiến gì phản đối đối với yêu cầu khởi kiện của chị H. Mặt khác, anh Nguyễn Thành L cũng thừa nhận số tiền nợ vay này là do hai vợ chồng cùng vay để dùng vào việc làm ăn kinh doanh.
Do đó, số tiền anh L đã vay của chị H là nợ chung của vợ chồng. Vì vậy, chị H yêu cầu chị C phải có nghĩa vụ liên đới cùng với anh L để trả nợ là hoàn toàn phù hợp theo theo quy định tại các Điều 27, Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Tại đơn khởi kiện đề ngày 29/12/2022 và trong quá trình giải quyết vụ án, chị Nguyễn Thị Thúy H yêu cầu anh Nguyễn Thành L và chị Phạm Thị Kim C phải trả tiền lãi. Tại phiên tòa, anh Trần Đăng K là người đại diện theo ủy quyền của chị Nguyễn Thị Thúy H rút lại yêu cầu tính lãi. Xét thấy, việc anh K rút lại yêu cầu tính lãi đối với anh L và chị C là hoàn toàn tự nguyện, không trái với quy định pháp luật và phù hợp với phạm vi ủy quyền nên Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử một phần đối với yêu cầu tính lãi của chị H theo quy định tại khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về đề nghị xin trả dần: Tại phiên toà, bị đơn anh Nguyễn Thành L đề nghị xin được trả dần. Tuy nhiên, anh Trần Đăng K là người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn không đồng ý với đề nghị trả dần của bị đơn anh Nguyễn Thành L nên Hội đồng xét xử không chấp nhận cho anh Nguyễn Thành L và chị Phạm Thị Kim C được trả dần.
Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thúy H.
Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thúy H nên anh Nguyễn Thành L và chị Phạm Thị Kim C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, 147, 227, 228, 244, 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Điều 166, 357, 463, 466 và Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Đình chỉ xét xử một phần đối với yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thúy H về việc tính lãi.
2. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thúy H:
Buộc anh Nguyễn Thành L và chị Phạm Thị Kim C phải liên đới trả cho chị Nguyễn Thị Thúy H số tiền nợ gốc là 600.000.000 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của chị Nguyễn Thị Thúy H cho đến khi thi hành án xong, anh Nguyễn Thành L và chị Phạm Thị Kim C còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
2. Về án phí:
Anh Nguyễn Thành L và chị Phạm Thị Kim C phải nộp án phí dân sự sơ thẩm với số tiền là 28.000.000 đồng.
Trả lại chị Nguyễn Thị Thúy H số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 14.000.000 đồng theo biên lai thu số 0018332 ngày 30 tháng 12 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.
3. Về quyền kháng cáo:
Chị Nguyễn Thị Thúy H và anh Nguyễn Thành L có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị Phạm Thị Kim C có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
4. Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự được quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tiền Giang; - VKSND thị xã Cai Lậy; - Chi cục THADS thị xã Cai Lậy; - Các đương sự trong vụ án; - Lưu: Hồ sơ, VPTA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Võ Phong Hiếu |