vanban.org

Bản án 10/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

39, Điều 147, Điều 227, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 357; Điều 463; Điều 466; khoản 1 Điều 470 Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng …

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị T: Buộc chị Ngụy Thanh H phải trả cho bà Lê Thị T số tiền nợ gốc là 870.000.000 đồng (Tám trăm bẩy mươi triệu đồng). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "tranh chấp dân sự"
  • Tòa quyết gì? 39, Điều 147, Điều 227, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 357; Điều 463; Điều 466; khoản 1 Điều 470 Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng …
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN DŨNG CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2023/DS-ST
Ngày 28 tháng 03 năm 2023
V/v: "Tranh chấp về hợp đồng vay tài sản"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN DŨNG, TỈNH BẮC GIANG

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Anh.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lương Ngọc Biên.

2. Bà Đinh Thị Thu Huyền.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Linh Chi - Thư ký Tòa án nhân dân

huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng tham gia phiên

tòa: Ông Vũ Hồng Sơn - Kiểm sát viên.

Trong ngày 28 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên

Dũng mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự đã thụ lý số 89/2022/TLST-DS ngày 17/11/2022 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01A/2023/QĐXX-ST ngày 30/01/2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2023/QĐST-DS ngày 27 tháng 02 năm 2023 và Thông báo thay đổi lịch phiên tòa ngày 10/3/2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Thị T, sinh năm 1969; địa chỉ: Tổ dân phố H, thị trấn

Tân A, huyện Yên D, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt).

- Bị đơn: Chị Ngụy Thanh H, sinh năm 1990; địa chỉ: Thôn Liên S, xã Tiền

P, huyện Yên D, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, quá trình tiến hành tố tụng tại Tòa án

nguyên đơn bà Lê Thị T trình bày: Bà có quen biết với chị Ngụy Thanh H vì chị Hương là con gái của ông Ngụy Văn K và bà Ngụy Thị N hàng xóm nhà bà. Ngày 22/6/2017 bà có cho chị H vay số tiền 870.000.000 đồng. Khi vay hai bên có lập giấy biên nhận vay tiền, có thỏa thuận thời hạn vay từ ngày 22/02/2017

1

đến ngày 22/07/2017, không thỏa thuận lãi suất. Khi vay chị H có nói với bà là mục đích vay tiền là để mua đất ở thị trấn Tân , huyện Yên D, tỉnh Bắc Giang. Khi vay là cả hai vợ chồng chị H đến nhà bà, nhưng chỉ có chị H hỏi vay tiền, chị H tự viết giấy biên nhận vay tiền và tự ký nhận vào bên người vay, còn anh Từ Văn P là chồng chị H chỉ ký vào người làm chứng trong giấy biên nhận vay tiền.

Đến thời hạn theo thỏa thuận, chị H không trả được đồng nào cho bà. Bà

đã liên lạc với chị H nhiều lần nhưng chị H vẫn không trả tiền cho bà. Sau này bà gọi điện thoại thì chị Hương tắt máy, bà không liên lạc được với chị H nữa.

Nay, bà khởi kiện yêu cầu chị H phải trả cho bà số tiền 870.000.000 đồng

tiền gốc, bà không yêu cầu chị H trả tiền lãi. Ngoài ra, bà không còn yêu cầu nào khác.

Số tiền vay này không liên quan gì đến chồng chị H là anh P vì chỉ chị

Hương hỏi vay bà mua đất cát làm ăn riêng của chị H, không liên quan gì đến anh P, anh P chỉ đi cùng và ký vào làm chứng thôi.

* Đối với bị đơn chị Ngụy Thanh H: Tòa án đã tiến hành thông báo thụ lý

vụ án, tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng cho chị H, nhưng chị H không có ý kiến gì và không đến Tòa án để làm việc. Tại phiên toà hôm nay, chị H vắng mặt không có lý do.

* Tài liệu Tòa án thu thập được:

+ Tại biên bản xác minh, ông Nguyễn Văn M - Công an xã tiền Phong,

huyện Yên Dũng cung cấp: Sau khi kiểm tra rà soát, theo dõi đăng ký hộ khẩu thường trú đối với trường hợp chị Ngụy Thanh H, sinh năm 1990 thì thấy chị Ngụy Thanh H có đăng ký hộ khẩu thường trú tại: Thôn Liên S, xã Tiền P, huyện Yên D, tỉnh Bắc Giang. Chị H chưa làm thủ tục cắt khẩu, chuyển khẩu đi nơi khác. Tuy nhiên, hiện nay chị H không có mặt tại địa phương.

+ Tại biên bản xác minh, ông Lương Văn G - trưởng thôn Liên S, xã Tiền

P, huyện Yên D cung cấp: Chị H là công dân của thôn Liên S, xã Tiền P, huyện Yên D, tỉnh Bắc Giang. Hiện chị Hương không có mặt tại địa phương, địa phương chỉ biết chị H và chồng đi làm ăn xa ở khu vực Hà Nội hay Hưng Yên gì đó, thi thoảng có thấy chị về chốc lát rồi lại vội vàng đi ngay vì chị H nợ nần nhiều, trốn nợ. Còn anh P chồng chị H địa phương cũng không biết anh đi đâu, làm gì, anh không cắt khẩu khỏi địa phương nhưng cũng đi suốt, thi thoảng mới thấy về rồi lại đi luôn.

+ Tại biên bản lấy lời khai, ông Ngụy Văn K là bố đẻ của chị Ngụy

Thanh Hư khai: Ông là bố đẻ của chị H, thời điểm năm 2017 chị H con gái ông

2

có vay của bà Tảo tiền, số tiền cụ thể ông không nắm rõ, bà T có vài lần lên nhà ông đòi tiền vì con gái ông nợ nên ông mới biết. Tòa án cho ông xem giấy biên nhận vay tiền ông khẳng định chữ ký ở phần người vay tiền đúng là chữ ký của chị H con gái ông. Nay, bà T khởi kiện chị H đòi tiền đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Chị H lấy chồng ở xã Tiền Phong, thường xuyên đi làm ăn xa, rất ít khi về, hầu như không về. Chị H có gửi con để gia đình ông trông hộ nên thi thoảng có gọi điện về hỏi thăm con và hỏi thăm gia đình nhưng ông cũng không biết địa chỉ cụ thể chị làm ăn ở đâu.

+ Tại Công văn số 5216/QLXNC-P5 ngày 15/03/2022, của Bộ Công an,

Cục quản lý xuất nhập cảnh, về việc cung cấp thông tin xuất nhập cảnh thể hiện: Chị Ngụy Thanh H, sinh năm 1990, địa chỉ: Thôn Liên S, xã Tiền P, huyện Yên D, tỉnh Bắc Giang không có thông tin xuất nhập cảnh tại cục Quản lý xuất nhập cảnh.

Tòa án đã tiến hành giao, niêm yết thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập và

thông báo về phiên hòa giải cho chị Ngụy Thanh Hương, đúng theo quy định của pháp luật, nhưng chị Hương không đến Tòa án để viết bản tự khai và hòa giải.

Tòa án đã tiến hành mở phiên họp về việc giao nộp, tiếp cận, công khai

chứng cứ và hòa giải nhiều lần, nhưng không hòa giải được vì bị đơn vắng mặt không có lý do.

Ngày 27/02/2022, Tòa án mở phiên tòa, nhưng chị H vắng mặt lần thứ nhất

không có lý do. Hội đồng xét xử đã hoãn phiên tòa.

Tại phiên tòa hôm nay chị H tiếp tục vắng mặt, Tòa án xét xử vắng mặt

Chị H.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng phát biểu ý kiến:

+ Ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án: Việc

tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết vụ án tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự, việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự, bị đơn chưa tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

+ Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 26; Điều 35; Điều 39; Điều

147; Điều 227; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 357; Điều 463; Điều 466; Điều 470 BLDS năm 2015, xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Tảo, buộc chị Hương phải trả cho bà Tảo số tiền gốc 870.000.000 đồng.

3

Về án phí: Chị Ngụy Thanh H phải chịu 38.100.000 đồng án phí dân sự sơ

thẩm. Trả lại bà Lê Thị T số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 11.400.000 đồng.

- Kiến nghị, khắc phục vi phạm: Không

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại

phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về thủ tục tố tụng:

Đối với việc vắng mặt của chị Ngụy Thanh H thì thấy: Theo như

đơn khởi kiện và xác minh tại địa phương thì chị Ngụy Thanh H có địa chỉ tại Thôn Liên Sơn, xã Tiền Phong, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang. Theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 192 bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05 tháng 5 năm 2017, thì: “...Trường hợp trong đơn khởi kiện, người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú của người bị kiện, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nhưng họ không có nơi cư trú ổn định, thường xuyên thay đổi nơi cư trú, trụ sở mà không thông báo địa chỉ mới cho cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về cư trú làm cho người khởi kiện không biết được nhằm mục đích che dấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ đối với người khởi kiện thì Thẩm phán không trả lại đơn khởi kiện mà xác định người bị kiện, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cố tình dấu địa chỉ và tiến hành thụ lý, giải quyết theo thủ tục chung...”. Tòa án có văn bản xác minh thông tin của chị H và được Cục quản lý xuất nhập cảnh Bộ Công an cung cấp không có thông tin xuất nhập cảnh của chị Hương. Chị Hương, hiện không có mặt tại địa phương và không thông báo địa chỉ cho bà T biết là cố tình dấu địa chỉ. Tòa án huyện Yên Dũng đã niêm yết toàn bộ giấy tờ và Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo đúng quy định của pháp luật.

Đối với việc vắng mặt của chị Ngụy Thanh H đã được triệu tập hợp lệ

nhưng vắng mặt không có lý do. Do vậy, Tòa án xét xử vắng mặt chị Ngụy Thanh H là phù hợp với quy định tại Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Về quan hệ pháp luật tranh chấp thì thấy: Theo như giấy biên nhận vay

tiền ngày 22/6/2017 thì chị Ngụy Thanh H có vay của bà Tảo số tiền 870.000.000 đồng. Hết thời hạn vay bà T có đòi nhiều lần nhưng chị H không trả. Bà T nộp đơn khởi kiện ra Tòa án. Đây là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự

. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

4

. Đối với yêu cầu của nguyên đơn, buộc chị H phải trả số tiền nợ gốc

là 870.000.000 đồng theo giấy vay tiền ngày 22/6/2017 thì thấy: Theo giấy vay tiền trên, thể hiện việc chị H có vay tiền của bà Tảo, mục đích vay tiền theo giấy vay là cá nhân, không thỏa thuận lãi suất, thời hạn trả là sau một tháng ( tức ngày 22/7/2017) kể từ ngày vay. Qua xác minh tại địa phương, sau khi viết giấy vay tiền và nhận tiền vay của bà Tảo thì chị H không có mặt tại địa phương, bà T đến đòi nhiều lần nhưng không gặp được chị H. Số tiền vay ghi rõ là cá nhân, anh P là chồng chỉ ký người làm chứng, không ký vào phần người vay tiền, chị H sử dụng số tiền vay vào việc làm ăn riêng của chị H không vào việc chung của gia đình. Bà T chỉ yêu cầu chị H phải trả bà số tiền 870.000.000 đồng. Do vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T là phù hợp với quy định tại Điều 466 Bộ luật Dân sự.

. Đối với số tiền lãi thì thấy: Bà Tảo không yêu cầu, do vậy Hội đồng

không đặt ra giải quyết.

. Về lãi suất: Bà T không yêu cầu chị H phải trả lãi suất, xét thấy đây là

sự tự nguyện của nguyên đơn nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về án phí: Do yêu cầu của bà T được chấp nhận, nên chị H phải chịu

án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

Trả lại tiền tạm ứng án phí bà T đã đóng cho bà T.

. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo

quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều

39, Điều 147, Điều 227, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 357; Điều 463; Điều 466; khoản 1 Điều 470 Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, Xử:

1.Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị T: Buộc chị Ngụy Thanh H

phải trả cho bà Lê Thị T số tiền nợ gốc là 870.000.000 đồng (Tám trăm bẩy mươi triệu đồng).

2.Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu

lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra

5

quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

3. Về án phí:

- Chị Ngụy Thanh H phải chịu 38.100.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

- Trả lại bà Lê Thị T số tiền 11.400.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo

biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0009773 ngày 17/11/2022 tại Chi Cục thi hành án dân sự huyện Yên Dũng.

4.Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án

trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

5. Về Hướng dẫn thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi

hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ