vanban.org

Bản án 10/2022/HSST — Hình sự

TAND TP. Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn Tuyên án 16/02/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Văn T phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy và tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Vũ Văn T 07 (bẩy) năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy và xử phạt 01 (một) năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổng hợp hình phạt chung cho hai tội là 08 (tám) năm tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 06 … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Văn T phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy và tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ LẠNG S
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 10/2022/HSST
Ngày 16-02-2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG S, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Xuân Tĩnh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Xuân Quý;

2. Ông Trịnh Tuấn Sỹ.

- Thư ký phiên tòa: Ông Dương Đức Mạnh, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Lạng S, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng S, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hoàng Thái - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 02 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lạng S, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 10/2022/TLST-HS ngày 21 tháng 01 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2022/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 01 năm 2022 đối với bị cáo:

Vũ Văn T, sinh ngày 06 tháng 8 năm 2001 tại tỉnh Lạng Sơn; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn Tà L, xã Tân M, huyện Văn L, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn D và bà Hứa Thị H; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Chưa bị kết án, chưa bị xử phạt hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật. Bị tạm giữ ngày 06-10-2021, tạm giam từ ngày 09-10-2021 đến nay. Có mặt.

- Người chứng kiến: Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1957; địa chỉ: Số 158/216 đường Bà T, phường Hoàng Văn T, thành phố Lạng S, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 14 giờ 45 phút ngày 06-10-2021 tại cổng khách sạn Diamond số 130 đường Ngô Q, phường Vĩnh T, thành phố Lạng S, Công an thành phố Lạng S phát hiện bắt quả tang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ trong lòng bàn tay trái của Vũ Văn T 01 gói giấy màu trắng bên trong có 03 túi nilon màu trắng có chất tinh thể màu trắng và 10 viên nén màu xanh hình đa giác, Vũ Văn T khai nhận đó là ma túy đang mang đi bán. Đến 16 giờ 30 phút cùng ngày Công an thành phố Lạng S đã tiến hành khám xét nơi ở của Vũ Văn T tại Thôn Tà L, xã Tân M, huyện Văn L thu giữ tại phòng ngủ tầng 1 được 01 gói giấy vệ sinh bên trong chứa chất tinh thể màu trắng và 01 túi nilon màu trắng kích thước 2,5cm x 2,5cm bên trong chứa cục chất bột màu xanh; 20 túi nilon màu trắng kích thước 3cm x 3,5cm và 01 cân tiểu ly điện tử hiệu Manlloro đã qua sử dụng.

Tại cơ quan điều tra bị cáo khai nhận, bản thân sử dụng ma túy tổng hợp dạng đá từ tháng 6 năm 2021. Qua quen biết ngoài xã hội Vũ Văn T có quen một phụ nữ tên H, quê ở tỉnh Bắc Giang nhưng không rõ họ tên địa chỉ cụ thể, khoảng tháng 9 năm 2021 H gọi điện thoại đến số thuê bao 0979.298.650 của Vũ Văn T nói mua ma túy về để bán kiếm lời, Vũ Văn T đồng ý và mua của H 20 viên ma túy kẹo và 05 chỉ ma túy ke với giá 15.000.000 đồng. Ngày 29-9-2021 H gói số ma túy này vào hộp đựng giầy và gửi xe ô tô khách cho Vũ Văn T nhận ma túy tại thị trấn Đồng Đ, huyện Cao L. Sau khi mua được ma túy Vũ Văn T mang về nhà cất dấu, ngày 03-10-2021 Vũ Văn T bán 10 viên ma túy kẹo và 02 chỉ ma túy ke cho một nam thanh niên không quen biết được 8.200.000 đồng, đã chi tiêu cá nhân hết. Số ma túy còn lại vào khoảng 9 giờ ngày 06-10-2021 có người nhắm tin từ số điện thoại 0915.650.014 vào số điện thoại 0979.298.650 của Vũ Văn T hỏi mua 10 viên ma túy kẹo và 03 chỉ ma túy ke thỏa thuận với giá là 10.500.000 đồng và nhắn hẹn giao ma túy tại khu vực khách sạn Diamond số 130 đường Ngô Quyền, phường Vĩnh Trại, thành phố Lạng S, sau đó Vũ Văn T đang trên đường đi bán ma túy thì bị công an bắt giữ quả tang như nêu trên.

Đối với số ma túy thu giữ tại nơi ở Vũ Văn T khai do trước đó khoảng một tháng nhặt được trước cửa quán Karaoke nên mang về nhà cất giữ mục đích để sử dụng cho bản thân.

Tại bản Kết luận giám định số 326/KL-PC ngày 08-10-2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: Các cục chất tinh thể màu trắng trong 03 túi nilon khi bắt quả tang đều là ma túy Ketamine, có tổng khối lượng 2,365 gam và 10 viên nén màu xanh hình đa giác khi bắt quả tang đều là ma túy MDMA, có tổng khối lượng 4,518 gam; các cục chất bột màu xanh có trong túi nilon thu giữ khi khám xét chỗ ở là ma túy MDMA, có khối lượng 0,319 gam và chất tinh thể màu trắng có trong túi nilon thu giữ khi khám xét chỗ ở là ma túy Ketamine, có khối lượng 0,165 gam.

Tại bản cáo trạng số 21/CT-VKS ngày 21-01-2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng S đã truy tố bị cáo Vũ Văn Tra trước Tòa án nhân dân thành phố Lạng S để xét xử về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 và tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Đối với người phụ nữ tên H bán ma túy cho bị cáo, do không rõ tên tuổi địa chỉ, nên chưa xác minh được để xử lý trong vụ án này; đối với người lái xe ô tô khách nhận vận chuyển hộp đựng ma túy cho bị cáo, nhưng không rõ biển số xe và không quen biết lái xe nên không có căn cứ xác minh xử lý. Đối với những người mua ma túy với bị cáo, do không xác minh được tên tuổi địa chỉ nên cũng chưa có căn cứ xử lý trong vụ án này.

Vật chứng vụ án, hiện đang thu giữ và chuyển Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lạng S quản lý gồm: 02 phong bì niêm phong đựng số ma túy còn lại sau giám định; 01 điện thoại di động hiệu Iphone mùa đen đã qua sử dụng; 20 túi nilon màu trắng kích thước 03cm x 3,5cm; 01 cân tiểu ly điện tử màu trắng đỏ đã qua sử dụng; 01 mảnh giấy màu trắng kích thước 14cm x 17cm và 01 mảnh giấy màu trắng kích thước 10cm x 12cm và số tiền 450.000 đồng niêm phong trong phong bì thư.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng S giữ nguyên nội dung quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Vũ Văn Tphạm tội Mua bán trái phép chất ma túy và tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Áp dụng điểm p khoản 2 Điều 251 và điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 55 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Vũ Văn Ttừ 7 năm đến 7 năm 6 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy và từ 12 đến 15 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và tổng hợp chung hình phạt của hai tội theo quy định. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo do bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập, không có tài sản riêng. Về xử lý vật chứng, đề nghị tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định và các vật chứng liên quan đến việc phạm tội; tịch thu sung ngân sách Nhà nước chiếc điện thoại di động thu của bị cáo vì liên quan đến phạm tội; trả lại cho bị cáo 450.000 đồng vì không liên quan đến phạm tội. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định để sung ngân sách Nhà nước và có quyền kháng cáo theo luật quy định.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ để bị cáo an tâm cải tạo sớm trở về với gia đình, xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng phù hợp với quy định của pháp luật tố tụng hình sự, các văn bản tố tụng được tống đạt hợp lệ và đầy đủ. Không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo Vũ Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, biên bản phạm tội quả tang và biên bản khám xét, phù hợp với kết luận giám định chất ma túy và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, đủ cơ sở xác định bị cáo Vũ Văn T do sử dụng ma túy tổng hợp đã tự mua ma túy về bán lại kiếm lời, để có tiền mua ma túy sử dụng. Vào hồi 14 giờ 45 phút ngày 06-10-2021 tại cổng khách sạn Diamond số 130 đường Ngô Q, phường Vĩnh T, thành phố Lạng S Vũ Văn T có hành vi mang 10 viên nén màu xanh là chất ma túy MDMA có khối lượng 4,518 gam và 03 túi nilon màu trắng là chất ma túy Ketamine có khối lượng 2,365 gam (quy đổi tương đương 0,59125 gam ma túy MDMA), tổng cộng là 5,109 gam ma túy MDMA để bán cho người khác với giá 10.500.000 đồng thì bị bắt quả tang. Ngoài ra còn tàng trữ trái phép tại nơi ở 0,319 gam ma túy MDMA và 0,165 gam ma túy Ketamine (quy đổi tương đương 0,04125 gam ma túy MDMA) mục đích để sử dụng cho bản thân. Căn cứ kết luận giám định số 326/KL-PC ngày 08-10-2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn, cùng với lời khai nhận mục đích mang ma túy đi bán với khối lượng các ma túy như trên, đủ cơ sở xác định bị cáo phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy với tình tiết định khung tại điểm p khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Đối với hành vi tàng trữ trái phép các chất ma túy với khối lượng, mục đích như trên đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, nên Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng S truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan.

Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, cùng một lúc phạm hai tội, khi phạm tội đã đủ tuổi, năng lực hành vi trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ và mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng do thỏa mãn nhu cần sử dụng trái phép ma túy của bản thân đã cố ý thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo làm mất an ninh, trật tự xã hội, gây hoang mang lo lắng trong dư luận quần chúng nhân dân, nên cần xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.

Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; về tình tiết giảm nhẹ, qúa trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ rõ sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Về nhân thân, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự phạm tội lần đầu; tuổi đời còn trẻ ngoài lần phạm tội bị xét xử thì chưa có vi phạm, kỷ luật gì, để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Từ những nhận định, phân tích nêu, Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo phạm tội lần đầu, chưa có tiền án, tiền sự, nhân thân tốt; số lượng ma túy mang đi bán và tàng trữ cũng chỉ trên khởi điểm quy định tại khung, khoản Điều luật bị truy tố và xét xử; tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Nên áp dụng ở mức thấp của khung hình phạt đối với từng tội là phù hợp, để bị cáo có thời gian yên tâm cải tạo, được giáo dục sau này trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55 của Bộ luật Hình sự tổng hợp thành hình phạt chung cho hai tội theo quy định của pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Căn cứ kết quả xác minh, xét hỏi tại phiên tòa thấy bị cáo không có nghề nghiệp và tài sản riêng, nên không đảm bảo việc thi hành án. Do vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng: Số ma túy còn lại sau giám định là chất Nhà nước cấm lưu hành và các vật chứng khác liên quan đến việc phạm tội đang thu giữ như cân điện tử, túi nilon, mảnh giấy màu trắng cần tịch thu, tiêu hủy. Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone bị cáo dùng vào việc liên lạc mua bán ma túy cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước. Về số tiền 450.000 đồng thu giữ của bị cáo khi bị bắt, xác định là tiền của bị cáo không niên quan đến việc phạm tội, nên cần trả lại cho bị cáo.

Đối với người phụ nữ tên H, người lái xe ô tô khách và những đối tượng mua ma túy với bị cáo, do không có căn cứ xác minh và chưa làm rõ được nên Cơ quan Điều tra không đủ cơ sở để xử lý trong vụ án này là có căn cứ.

Những nội dung đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp, đúng pháp luật, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí, quyền kháng cáo: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 3, khoản 1 Điều 21, 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án, bị cáo bị kết án nên phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm, để nộp ngân sách Nhà nước. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm p khoản 2 Điều 251 và điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; điểm c khoản 1 Điều 47; điểm a khoản 1 Điều 55 của Bộ luật Hình sự năm 2015;

Căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 3, khoản 1 Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định về án phí Toà án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Văn T phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy và tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Vũ Văn T 07 (bẩy) năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy và xử phạt 01 (một) năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổng hợp hình phạt chung cho hai tội là 08 (tám) năm tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 06 tháng 10 năm 2021.

3. Về vật chứng: Tịch thu và tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định đựng trong 02 (hai) phong bì niên phong; 20 (hai mươi) túi nilon màu trắng kích thước 03cm x 3,5cm; 01(một) cân tiểu ly điện tử màu trắng đỏ đã qua sử dụng; 01 (một) mảnh giấy màu trắng kích thước 14cm x 17cm và 01 (một) mảnh giấy màu trắng kích thước 10cm x 12cm.

Tịch thu và sung ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone mùa đen đã qua sử dụng của bị cáo Vũ Văn T. Trả lại cho bị cáo Vũ Văn T số tiền 450.000 đồng niêm phong trong phong bì thư.

(Vật chứng trên được thể hiện tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/02/2022 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra, công an thành phố Lạng S với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lạng S).

4. Về án phí: Bị cáo Vũ Văn T phải chịu 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm, để nộp ngân sách Nhà nước.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ