- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Phong - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 1/ Tạm giam bị cáo: Nguyễn Văn Phong, sinh năm 1981.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 109 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 113 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG LÔ TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 10/2022/HSST Ngày 19/4/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG LÔ, TỈNH VĨNH PHÚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Kiên Thành
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Hùng và bà Vũ Thị Minh Nguyệt.
Thư ký phiên tòa: Ông Nghiêm Xuân Huy – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh phúc.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Công Lợi - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 4 năm 2022 tại hội trường Nhà văn hóa xã Tứ Yên. Tòa án nhân dân huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc mở phiên toà xét xử lưu động công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 09/2022/HSST ngày 18/3/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2022/QĐXXST-HS ngày 07/4/2022 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn Ph, sinh năm 1981; Nơi đăng ký hộ khẩu và chỗ ở: tổ 55, Khu 6A, phường Nông Trang, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ học vấn lớp 4/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; con ông Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1942 (đã chết) và bà Nguyễn Thị Th, sinh năm 1942; vợ Hoàng Thủy H (đã chết), Có 01 con sinh năm 2011. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/12/2021, (có mặt tại phiên tòa).
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn Ph: Bà Kim Hồng Thanh - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Nguyễn Văn Ph trú tại Tổ 55, Khu 6A, phường Nông Trang, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ là đối tượng nghiện chất ma túy nhiều năm nay. Vào khoảng 12 giờ 30 phút ngày 19 tháng 12 năm 2021, Ph một mình điều khiển xe môtô. Biển kiểm soát 19H7 - 9810 từ nhà sang khu vực xã Tứ Yên, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc để mua ma tuý sử dụng. Đến nơi Ph dùng chiếc điện thoại của mình gọi cho một người tên C ở xã Tứ Yên có số điện thoại là 0971806114 (Phong khai là bạn nghiện mới quen ngoài xã hội và không biết lý lịch, địa chỉ cụ thể C ở đâu), Ph nhờ Cường đi mua giúp ma tuý thì C đồng ý, Ph đưa số tiền 400.000đ cho C, C cầm tiền bảo Ph đứng đợi tại khu vực bến đò xã Tứ Yên. Sau đó C lấy xe môtô của Ph đi một lúc thì quay lại trả xe môtô và đưa cho Ph 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long bên trong có 03 gói ma tuý rồi C bỏ đi đâu không rõ. Sau khi nhận ma tuý từ C xong thì Ph bị lực lượng Công an huyện Sông Lô phát hiện đến bắt quả tang, Ph hoảng sợ vứt vỏ bao thuốc lá cùng 03 gói ma tuý xuống đất gần chỗ Ph đứng, Công an thu giữ vật chứng gồm: Thu tại nền đất gần vị trí Ph đứng 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long bên trong có 03 gói nhỏ ma tuý (Ph tự nguyện khai nhận đó là ma tuý Heroine mua về để sử dụng) và được niêm phong ký hiệu A1; 01 điện thoại di động loại SAMSUNG màu đen; 01 xe môtô nhãn hiệu ORIENTAL gắn BKS 19H7 - 9810; 03 xi lanh nhựa loại 3ml, 03 lọ nước cất loại 2ml và 01 ví giả da màu đen bên trong có 244.000đ thu ở túi quần của Ph. Công an tiến hành lập biện bản bắt người phạm tội quả tang theo quy định.
Cơ quan CSĐT Công an huyện Sông Lô quyết định trưng cầu giám định đối với mẫu vật chứng thu giữ của Nguyễn Văn Ph. Ngày 23/12/2021, Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Phúc có kết luận giám định số 3339/KLGĐ, kết luận: Chất cục bột màu trắng của mẫu ký hiệu A1 gửi giám định là ma tuý, có khối lượng là 0,1697g (không phảy một sáu chín bảy gam), loại Heroine. Hoàn trả trực tiếp cho cơ quan trưng cầu gồm: 0,1120gam (không phảy một một hai không gam) mẫu và toàn bộ bao gói.
Đối với Cường là người mua ma túy cho Ph, Ph khai không biết rõ họ tên, lý lịch và địa chỉ cụ thể của người này nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh làm rõ để xử lý. Đối với số điện thoại 0971806114, qua điều tra xác minh chiếc sim đăng ký tên ông Nguyễn Bá Được, trú xã Yên Thạch, huyện Sông Lô. Ông Đ xác định bị rơi mất chiếc sim một thời gian, sau đó ông bỏ luôn không sử dụng số sim này nữa. Bản thân Ph cũng xác định không có quan hệ, quen biết gì với ông Được.
Tại bản cáo trạng số: 14/CT - VKSSL - MT ngày 16/3/2022 Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô đã truy tố Nguyễn Văn Ph về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự và tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô luận tội đối với hành vi phạm tội của bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng. Sau khi đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Ph phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Ph từ 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam, không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo và đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Luật sư bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn Ph, bà Kim Hồng Th có lời bào chữa cho bị cáo, nhất trí với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn Ph về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, lần đầu phạm tội, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn là lao động chính có mẹ già, con còn nhỏ. Nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo với mức án thấp nhất của khung hình phạt nhằm mục đích răn đe, giáo dục bị cáo và đảm bảo chính sách khoan hồng của pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét trả lại tài sản cho bị cáo và gia đình.
Tại phiên tòa bị cáo đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô đã truy tố và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, bị cáo nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật của mình, ăn năn hối hận, bị cáo nhất trí với bản luận tội của đại điện viện kiểm sát không có ý kiến tranh luận gì. Trong lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Sông Lô, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Phong không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn Ph đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như sau: Vào hồi hồi 12 giờ 50 phút ngày 19/12/2021, tại khu vực đê tả Sông Lô thuộc thôn Yên Kiều, xã Tứ Yên, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc, bị cáo có hành vi đang tàng trữ trái phép 03 gói ma túy heroin có khối lượng 0,1697gam, mục đích sử dụng cho bản thân thì bị Công an huyện Sông Lô phát hiện, bắt quả tang thu giữ toàn bộ vật chứng có liên quan.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản lời khai và bản kiểm điểm của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ được, kết luận giám định chất ma túy và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ căn cứ kết luận: Bị cáo Nguyễn Văn Ph phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự qui định: “Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c) Heroine, … có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.
Do đó bản cáo trạng số: 14/CT - VKSSL ngày 16/3/2022 Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô đã truy tố Nguyễn Văn Phong về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng pháp luật, không oan.
Hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự, an ninh ở địa phương nhất là trong giai đoạn hiện nay Đảng và Nhà nước có những chủ trương, biện pháp đấu tranh không khoan nhượng đối với các loại tội phạm về ma tuý nhưng trên địa bàn huyện Sông Lô nói chung tội phạm về ma tuý diễn biến ngày càng phức tạp và có chiều hướng ra tăng, nó cũng là mầm mống nảy sinh những tội phạm khác như: Trộm cắp, lừa đảo, cướp giật tài sản......Do vậy cần xử phạt bị cáo với mức án tù tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo có như vậy mới đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo và dăn đe những kẻ khác góp phần đấu tranh phòng chống tội phạm.
Về nhân thân của bị cáo cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo luôn khai báo thành khẩn, biết ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do vậy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đối chiếu các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xử phạt tù cách ly bị cáo một thời gian mới đủ điều kiện giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân tốt, luôn có ý thức chấp hành pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Qua điều tra xác minh và tại phiên tòa bị cáo xác nhận là người nghiện ma túy, hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, không có công việc thu nhập ổn định, không có tài sản riêng. Nên không áp dụng hình phạt bổ sung được quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ toàn bộ mẫu vật hoàn lại sau giám định gồm: 0,1120gam mẫu và toàn bộ bao gói; 01vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, 03 xi lanh nhựa loại 3ml; 03 lọ nước cất loại 2ml. Tịch thu bán sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG cũ, màu đen, loại màn hình cảm ứng Nguyễn Văn Ph đã dùng liên lạc để mua ma tuý.
Trả lại Nguyễn Văn Ph 01 xe môtô nhãn hiệu ORIENTAL gắn BKS 19H7 - 9810, chiếc xe đăng ký tên Hoàng Văn M và 01 ví giả da màu đen bên trong có 244.000đ là của Ph không liên quan đến tội phạm.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Phong phải chịu theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1/ Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Ph phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
2/ Điều luật áp dụng và hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Phạt: Nguyễn Văn Ph 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 19 tháng 12 năm 2021. Tiếp tục tạm giam bị cáo Phong để đảm bảo thi hành án.
3/ Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ toàn bộ mẫu vật hoàn lại sau giám định gồm: 0,1120gam mẫu và toàn bộ bao gói; 01vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, 03 xi lanh nhựa loại 3ml; 03 lọ nước cất loại 2ml. Tịch thu bán sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG cũ, màu đen, loại màn hình cảm ứng Phong đã dùng liên lạc để mua ma tuý.
Trả lại Nguyễn Văn Ph 01 xe môtô nhãn hiệu ORIENTAL gắn BKS 19H7 - 9810, chiếc xe đăng ký tên Hoàng Văn Mạnh và 01 ví giả da màu đen bên trong có 244.000đ là của Ph, nhưng được tạm giữ để đảm bảo việc thi hành án (có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/3/2022 của Chi cục thi hành án huyện Sông Lô).
4/ Về án phí: Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Văn Phong phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
5/ Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./. Nơi nhận:
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM -VKSND huyện Sông Lô;
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà -VKSND tỉnh Vĩnh Phúc; -TAND tỉnh Vĩnh Phúc;
- Trại tạm giam CA tỉnh; -Chi cục THA dân sự huyện Sông Lô; -Công an huyện Sông Lô; -UBND phường Nông Trang; -Bị cáo;Luật sư; -Lưu hs; Vp.
Nguyễn Kiên Thành
TÒA ÁN NHÂN DÂN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN SÔNG LÔ
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
TỈNH VĨNH PHÚC
BIÊN BẢN NGHỊ ÁN
Vào 09 hồi giờ 45 phút ngày 19 tháng 4 năm 2022.
Tại: Phòng nghị án UBND xã Tứ Yên, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc
Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Kiên Thành
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Hùng và bà Vũ Thị Minh Nguyệt.
Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 09/2022/HSST ngày 18 tháng 3 năm 2022 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn Phong, sinh năm 1981.
Nơi đăng ký hộ khẩu và chỗ ở: tổ 55, Khu 6A, phường Nông Trang, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.
Căn cứ Điều 299 và Điều 326 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH
CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:
1/ Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ, trường hợp trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí = 100%.
2/ Những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập; do bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp đều hợp pháp. Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí = 100%.
3/ Về tội danh và Điều luật áp dụng: có đầy đủ căn cứ kết tội bị Nguyễn Văn Phong phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí = 100%.
4/ Về hình phạt: Phạt: Nguyễn Văn Phong 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 19 tháng12 năm 2021. Tiếp tục tạm giam bị cáo Tú để đảm bảo thi hành án. Bị cáo không thuộc trường hợp miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt. Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí = 100%.
5/ Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ toàn bộ mẫu vật hoàn lại sau giám định gồm 0,1120gam mẫu và toàn bộ bao gói; 01vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, 03 xi lanh nhựa loại 3ml; 03 lọ nước cất loại 2ml.
Tịch thu bán sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG cũ, màu đen, loại màn hình cảm ứng Phong đã dùng liên lạc để mua ma tuý.
Trả lại Nguyễn Văn Phong 01 xe môtô nhãn hiệu ORIENTAL gắn BKS 19H7 - 9810, chiếc xe đăng ký tên Hoàng Văn Mạnh và 01 ví giả da màu đen bên trong có 244.000đ là của Phong, nhưng được tạm giữ để đảm bảo việc thi hành án (có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/3/2022 của Chi cục thi hành án huyện Sông Lô).
Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Văn Phong phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm. Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí = 100%.
6/ Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên huyện Vĩnh Tường trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí = 100%.
7/ Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định. Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí = 100%.
Nghị án kết thúc vào hồi 10 giờ 15 phút ngày 19 tháng 4 năm 2022.
Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Xuân Hùng Vũ Thị Minh Nguyệt
Nguyễn Kiên Thành
TÒA ÁN NHÂN DÂN
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN SÔNG LÔ
Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc
TỈNH VĨNH PHÚC
Sông Lô ngày 19 tháng 4 năm 2022 Số: 03/2022/HSST-QĐTG
QUYẾT ĐỊNH TẠM GIAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG LÔ, TỈNH VĨNH PHÚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Kiên Thành
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Hùng và bà Vũ Thị Minh Nguyệt.
Căn cứ vào các Điều 109, 113, 119 và Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự;
Căn cứ vào biên bản nghị án ngày 19/4/2022 của Hội đồng xét xử sơ thẩm.
Xét thấy cần thiết tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo cho việc Thi hành án.
QUYẾT ĐỊNH
1/ Tạm giam bị cáo: Nguyễn Văn Phong, sinh năm 1981.
Nơi đăng ký hộ khẩu và chỗ ở: tổ 55, Khu 6A, phường Nông Trang, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.
Nghề nghiệp: Lao động tự do
Bị Toà án cấp sơ thẩm xử phạt 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 19 tháng 12 năm 2021.
Thời hạn tạm giam là: 45 (Bốn mươi năm) ngày, kể từ ngày tuyên án, ngày 19/4/2022.
2/ Trại tạm giam Công an tỉnh Vĩnh Phúc có trách nhiệm Thi hành quyết định này.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND huyện Sông Lô; - TTG Công an tỉnh Vĩnh Phúc; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ. | Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Kiên Thành |