vanban.org

Bản án 10/2022/HSST — Hình sự

TAND huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam Tuyên án 23/08/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Quốc V phạm “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo 02 (hai) năm tù.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tuyên tịch thu và tiêu hủy: 0,056g (không phẩy không trăm năm mươi sáu gam) ma túy, loại Heroine còn lại sau giám định, kể cả bao gói (Được niêm phong trong phong bì số 70/PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng N… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Quốc V, Tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Quốc V phạm “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo 02 (hai) năm tù.
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NAM GIANG
TỈNH QUẢNG NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2022/HSST
Ngày: 23/8/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM GIANG, TỈNH QUẢNG NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông: ALăng Ping.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông: Ka Phu Bột; Ông: Tơ Ngôl Vui.

- Thư ký phiên tòa: Bà: Lê Thị Linh Giang, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Giang tham gia phiên tòa: Ông: Võ Cao Linh – Kiểm sát viên.

Vào lúc 07 giờ 30 phút ngày 23 tháng 8 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai rút kinh nghiệm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 10/2022/TLST-HS ngày 22 tháng 7 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2022/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 8 năm 2022 đối với bị cáo:

Trần Quốc V, sinh ngày 01 tháng 3 năm 1991 tại huyện Đ, tỉnh Q; Nơi cư trú tại: Tổ 2, thôn T, thị trấn T, huyện N, tỉnh Q; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Trình độ học vấn: Lớp 9/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần P, sinh năm 1961 và bà Võ Thị Y, sinh năm 1966; bị cáo chưa có vợ con; Tiền án,Tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 14/12/2015, Trần Quốc V bị Toà án nhân dân huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 26/2015/HSST ngày 14/12/2015), Trần Quốc V chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 07/02/2016 (Giấy chứng nhận số 104/GCN ngày 07/02/2016 của Cơ quan thi hành án hình sự Công an tỉnh Quảng Nam) và đã chấp hành xong các quyết định khác của bản án; Ngày 21/12/2017, Trần Quốc V bị Toà án nhân dân huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 16/2017/HSST ngày 21/12/2017), Trần Quốc V chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 30/7/2018 (Giấy chứng nhận số 499/GCN ngày 30/7/2018 của Trại giam An Điềm) và đã chấp hành xong các quyết định khác của bản án.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 28/5/2022 sau đó chuyển sang tạm giam. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Đỗ Hồng L; sinh năm 1996; nơi cư trú tại thôn Đ, thị trấn T, huyện N, tỉnh Q. Vắng mặt.

- Người chứng kiến:

Ông: ALăng H; sinh năm 1993; nơi cư trú tại thôn Đ, xã Đ, huyện N, tỉnh Q. Vắng mặt.

Ông: Zơ Râm V; sinh năm 1987; nơi cư trú tại thôn Đ, xã Đ, huyện N, tỉnh Q. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 17 giờ 45 phút ngày 28/5/2022, Tổ công tác Đồn Biên phòng cửa khẩu Nam Giang, Bộ đội biên phòng tỉnh Quảng Nam tiến hành tuần tra, kiểm soát trên địa bàn xã Đắc Tôi, huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam. Khi đến khu vực thôn Đắc Tà Vâng, xã Đắc Tôi, huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam thì phát hiện 01 (một) người đàn ông điều khiển xe máy màu đen trắng, hãng Yamaha, nhãn hiệu Sirius, BKS: 43G1-03038, có biểu hiện nghi vấn, tổ công tác tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra, người đàn ông khai tên là Trần Quốc V (Sinh năm: 1991, trú tại Tổ 2, thôn T, TT. T, huyện N, tỉnh Q). Kiểm tra trên người bị cáo Trần Quốc V phát hiện bên trong túi quần Jean bên phải phía trước của bị cáo đang mặc có 01 (một) gói ni lông màu xanh, bên trong có chứa các cục chất rắn màu trắng, không rõ hình dạng, khối lượng. Bị cáo khai nhận các cục chất rắn trên là ma túy, loại Heroine của bị cáo mua từ một người tên T ở thành phố Đà Nẵng (không rõ tuổi, địa chỉ) với số tiền 1.000.000 (một triệu) đồng, mục đích là để sử dụng.

Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với bị cáo và niêm phong toàn bộ tang vật trên, đưa bị cáo về đơn vị để tiến hành điều tra làm rõ.

Qua đấu tranh, bị cáo Trần Quốc V khai nhận: Bị cáo là người nghiện ma túy, trước đó, khoảng 13 giờ 30 ngày 28/5/2022, bị cáo chạy xe máy từ thị trấn Thạnh Mỹ, huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam xuống khu vực cầu vượt Hòa Cầm, thành phố Đà Nẵng gặp một người phụ nữ tên T, khoảng 45 tuổi, (không rõ nhân thân, lai lịch) và hỏi mua ma túy, loại Heroine, sau khi thống nhất giá mua ma túy là 1.000.000 (một triệu) đồng, bị cáo đưa tiền trước cho người phụ nữ này và lên trên cầu đợi, khoảng 15 phút sau có 01 (một) người đàn ông chạy xe máy đến và vứt gói ma túy bỏ trong bao thuốc lá rồi rời đi, bị cáo lượm bao thuốc lá bên trong có gói ma túy sau đó điều khiển xe quay về lại thị trấn Thạnh Mỹ, huyện Nam Giang, tại khu vực dốc huyện đội bị cáo lấy một ít ra sử dụng, số còn lại bị cáo gói lại bằng bao ni lông màu xanh và cất trong túi quần Jean, bên phải, phía trước bị cáo đang mặc, sau khi sử dụng ma tuý xong bị cáo chạy xe máy lên xã Đắc Tôi chơi, mục đích mang theo gói ma túy trên là để sử dụng. Khoảng 17 giờ 45 phút khi đến khu vực thôn Đắc Tà Vâng, xã Đắc Tôi thì gặp tổ công tác Bộ đội biên phòng kiểm tra phát hiện gói ma túy trên, nên tổ công tác lập biên bản bắt giữ bị cáo, niêm phong toàn bộ tang vật và đưa về đơn vị để điều tra làm rõ.

Vật chứng thu giữ:

- 01 (một) gói Heroine có khối lượng là 0,130g (không phẩy một trăm ba mươi gam); số ma túy này sau khi được giám định thì khối lượng còn lại là 0,056g (không phẩy không trăm năm mươi sáu gam).

- 01 (một) chiếc xe mô tô màu trắng đen, hãng Yamaha, hiệu Sirius, BKS 43G1-03038.

- 01 (một) cái quần Jean màu xanh đen, đã qua sử dụng, dài khoảng 50cm (Năm mươi cen ti mét) phía trước và phía sau có vết bạc màu trắng.

Tại Kết luận giám định số 70/KL-KTHS(MT), ngày 31/5/2022 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Quảng Nam kết luận: “Mẫu chất rắn dạng hạt – bột màu trắng gửi giám định (mẫu ký hiệu A) là ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,130g (không phẩy một trăm ba mươi gam)”.

Tại bản cáo trạng số 06/CT-VKSNG ngày 21/7/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Giang (viết tắt là VKSND huyện Nam Giang) truy tố bị cáo Trần Quốc V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (viết tắt là BLHS).

Tại phiên tòa, đại diện VKSND huyện Nam Giang thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử giữ nguyên nội dung bản cáo trạng truy tố; Qua xem xét tính chất của vụ án, đặc điểm nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử (viết tắt là HĐXX): Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS, tuyên bố bị cáo Trần Quốc V phạm “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”, xử phạt bị cáo từ 02 (hai) đến 03 (ba) năm tù.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có thu nhập ổn định và không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung theo Khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Xử lý vật chứng:

- Đối đối với số ma túy Heroine còn lại sau giám định là vật cấm tàng trữ và lưu hành nên tuyên tịch thu, tiêu hủy.

- Đối với 01 (một) cái quần Jean màu xanh đen, đã qua sử dụng, dài khoảng 50cm (Năm mươi cen ti mét) phía trước và phía sau có vết bạc màu trắng là phương tiện của bị cáo để cất giấu ma túy nên tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 (một) chiếc xe mô tô màu trắng đen, hãng Yamaha, hiệu Sirius, BKS 43G1-03038. Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an huyện Nam Giang xác định chiếc xe này là của ông Đỗ Hồng L cho bị cáo mượn để đi lại, L không biết bị cáo sử dụng chiếc xe này vào việc phạm tội, do đó, Cơ quan CSĐT Công an huyện Nam Giang đã trả lại chiếc xe này cho L là đúng quy định pháp luật.

Vấn đề khác:

- Đối tượng bán ma túy cho bị cáo là người phụ nữ tên T tại cầu vượt Hoà Cầm, thành phố Đà Nẵng, bị cáo không rõ nhân thân lai lịch nên không có cơ sở để điều tra, xử lý.

- Trong vụ án này, theo lời khai của bị cáo thì ngoài lần mua ma túy này thì trước đó, bị cáo còn có 02 (hai) lần mua ma túy cũng từ người phụ nữ tên T tại Cầu vượt Hòa Cầm để sử dụng, bị cáo không xác định được khối lượng, trọng lượng cụ thể đã mua về để sử dung, Cơ quan CSĐT Công an huyện Nam Giang cũng không có cơ sở để điều tra làm rõ (không có vật chứng), do đó, không có cơ sở để xử lý đối với 02 (hai) lần thực hiện hành vi trước đó của bị cáo.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, không bào chữa, xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Hành vi, quyết định tố tụng của Đồn Biên phòng cửa khẩu Nam Giang, Cơ quan CSĐT Công an huyện Nam Giang, Điều tra viên, VKSND huyện Nam Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đỗ Hồng L vắng mặt không có lý do, nhưng ông L đã có lời khai trong hồ sơ vụ án; Xét thấy việc vắng mặt của ông L không ảnh hưởng đến việc xét xử, nên căn cứ vào Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự, HĐXX tiến hành xét xử vụ án là đúng quy định.

. Xét về định tội và định khung hình phạt: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. HĐXX xác định được:

Bị cáo Trần Quốc V nghiện ma túy từ tháng 3/2022, vào ngày 28/5/2022 bị cáo mua ma túy loại Heroine với số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) tại cầu vượt Hoà Cầm, thành phố Đà Nẵng, sau đó lên huyện Nam Giang đến dốc Huyện Đội cũ bị cáo lấy ma túy ra để sử dụng một ít, số ma túy còn lại bị cáo bỏ vào túi quần mang theo để sử dụng. Đến khoảng 17 giờ 45 phút, bị cáo đi đến thôn Đắc Tà Vâng, xã Đắc Tôi bằng chiếc xe mô tô BKS 43G1-03038 thì bị Tổ công tác Bộ đội Đồn Biên phòng Cửa khẩu Nam Giang yêu cầu dừng xe, kiểm tra và phát hiện bị cáo tàng trữ 0,130gam (không phẩy một trăm ba mươi gam) ma túy, loại Heroine.

Tại Kết luận giám định số 70/KL-KTHS(MT), ngày 31/5/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Nam kết luận: “Mẫu chất rắn dạng hạt – bột màu trắng gửi giám định (mẫu ký hiệu A) là ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,130g (không phẩy một trăm ba mươi gam)”.

Xét thấy, bị cáo là người đã trưởng thành, có đầy đủ khả năng nhận thức và hoàn toàn biết việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng để thỏa mãn cơn nghiện nên bị cáo đã bất chấp và cố ý tàng trữ 0,130g (không phẩy một trăm ba mươi gam) ma túy, loại Heroine. Do đó, HĐXX có đầy đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Trần Quốc V phạm “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.

Bản Cáo trạng truy tố và ý kiến luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

. Xét tính chất vụ án: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Tính chất phạm tội là rất nguy hiểm cho xã hội, bởi ma túy là chất độc dược gây nghiện, ma túy không chỉ ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của người sử dụng mà còn ảnh hưởng đến gia đình và cộng đồng, là nguyên nhân dẫn đến các hành vi phạm tội khác; Ma túy là mối nguy hại đối với Quốc gia, dân tộc, vì vậy Nhà nước đã có nhiều biện pháp, chế tài nhằm kiểm soát các chất ma túy, nhưng tình hình tội phạm liên quan đến ma túy vẫn diễn biến phức tạp; nên hành vi của bị cáo cần phải xử lý và áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội.

. Xét về các tình tiết giảm nhẹ và nhân thân:

Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, nên được hưởng là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.

Nhân thân: Bị cáo đã 02 lần bị xét xử về “Tội trộm cắp tài sản” và đã chấp hành xong các quyết định khác của bản án, nhưng không lấy đó làm bài học mà lại tiếp tục phạm tội do lỗi cố ý là thể hiện thái độ bất chấp và coi thường pháp luật.

. Về hình phạt bổ sung: HĐXX xét thấy, bị cáo không có thu nhập ổn định và không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung theo Khoản 5 Điều 249 BLHS, như đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp.

. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 BLHS; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Đối đối với số ma túy Heroine còn lại sau giám định là vật cấm tàng trữ và lưu hành nên tuyên tịch thu, tiêu hủy.

- Đối với 01 (một) cái quần Jean màu xanh đen, đã qua sử dụng, dài khoảng 50cm (Năm mươi cen ti mét) phía trước và phía sau có vết bạc màu trắng là phương tiện của bị cáo để cất giấu ma túy nên tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 (một) chiếc xe mô tô màu trắng đen, hãng Yamaha, hiệu Sirius, BKS 43G1-03038. Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an huyện Nam Giang xác định chiếc xe này là của ông Đỗ Hồng L cho bị cáo mượn để đi lại, L không biết bị cáo sử dụng chiếc xe này vào việc phạm tội, do đó, Cơ quan CSĐT Công an huyện Nam Giang đã trả lại chiếc xe này cho L là đúng quy định pháp luật.

. Vấn đề khác:

- Về đối tượng bán ma túy cho bị cáo là người phụ nữ tên tại cầu vượt Hoà Cầm, thành phố Đà Nẵng, bị cáo không rõ nhân thân, lai lịch; do đó không có cơ sở để điều tra, Viện kiểm sát không đề cập trách nhiệm, nên HĐXX không xem xét.

- Trong vụ án này, theo lời khai của bị cáo thì trước đó, bị cáo còn có 02 (hai) lần mua ma túy cũng từ người phụ nữ tên T tại Cầu vượt Hòa Cầm để sử dụng, nhưng bị cáo không xác định được khối lượng, trọng lượng cụ thể đã mua về để sử dụng; do đó không có cơ sở để điều tra, Viện kiểm sát không đề cập trách nhiệm, nên HĐXX không xem xét.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS:

Tuyên bố bị cáo Trần Quốc V phạm “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 28/5/2022.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tuyên tịch thu và tiêu hủy: 0,056g (không phẩy không trăm năm mươi sáu gam) ma túy, loại Heroine còn lại sau giám định, kể cả bao gói (Được niêm phong trong phong bì số 70/PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Nam có chữ ký của Lê Hoàng Vũ, Lê Cao Trí, Đỗ Phan Hoàng Hải và được đóng giáp lai 09 hình dấu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Nam ở mặt trước và mặt sau).

- Tuyên tịch thu và tiêu hủy: 01 (một) cái quần Jean màu xanh đen, đã qua sử dụng, dài khoảng 50cm (Năm mươi cen ti mét) phía trước và phía sau có vết bạc màu trắng (Được đựng trong bao ni lông màu vàng và được niêm phong lại bằng giấy trắng bên ngoài có chữ ký của các ông Đỗ Phan Hoàng Hải, Nguyễn Xuân Tuấn Anh và bị cáo Trần Quốc V).

(Toàn bộ vật chứng đã được chuyển giao đến cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nam Giang theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 26/7/2022).

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Trần Quốc V phải nộp số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng y) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ