- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Ngọc B phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố Bị cáo Trần Ngọc B phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BÌNH MINH TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 10/2022/HS-ST Ngày: 21-01-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BÌNH MINH, TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quốc Huy
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Bùi Văn Khanh
Ông Sơn Mứt
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Huyền Trang – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Minh tham gia phiên tòa: Ông Lê Thanh Sang – Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 63/2021/TLST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 82/2021/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 12 năm 2021 đối với Bị cáo:
Trần Ngọc B, sinh năm 1977 tại Đ, A; Nơi thường trú: Ấp C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An; nghề nghiệp: Tài xế; Trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn N (chết) và bà Đinh Thị N; Có vợ đã ly hôn và 02 người con; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Chưa có tiền án, tiền sự.
Bị cáo được tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Anh Lê Đức Phi L, sinh năm: 1997 (Chết)
Địa chỉ: Ấp B, xã H, huyện H, tỉnh Vĩnh Long.
Người đại diện hợp pháp của Bị hại:
1. Ông Lê Đức L, sinh năm: 1964, có mặt
2. Bà Lê Thị N, sinh năm: 1963, có mặt
Người đại diện hợp pháp của bà Lê Thị N: Ông Lê Đức L, sinh năm: 1964
Cùng địa chỉ: Số 9B/14, ấp B, xã H, huyện H, tỉnh Vĩnh Long. (Theo Giấy ủy quyền ngày 09/6/2021)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Anh Cao Thanh T, sinh năm: 1985
Địa chỉ: Ấp 1, xã Đ, huyện M, tỉnh Đồng Nai, vắng mặt.
2. Công ty Bảo hiểm T
Địa chỉ: Số 53 – 53A, đường T, phường A, quận K, thành phố Cần Thơ, vắng mặt.
3. Công ty Cổ phần Bảo hiểm A
Địa chỉ: Số 117 – 119, đường T, phường 7, quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt.
- Người làm chứng: Anh Đỗ Thanh B, sinh năm: 1984
Địa chỉ: Ấp 5, xã Y, huyện L, tỉnh Long An, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào ngày 30/5/2021, Trần Ngọc B điều khiển xe ô tô tải cẩu biển số 51C -355.40 trên xe chở theo Đỗ Thanh B đến tỉnh Bạc Liêu giao máy phát điện cho khách hàng. Sau khi giao hàng xong Trần Ngọc B điều khiển xe chở Đỗ Thanh B quay trở về Long An. Khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, B điều khiển xe ô tô tải cẩu 51C -355.40 đến Km 2063+300 Quốc lộ 1, thuộc ấp B, xã B, thị xã M ghé vào cây xăng Tuyết S đổ dầu. Sau khi đổ dầu xong, Trần Ngọc B điều khiển xe từ trong cây xăng ra Quốc lộ 1 và chuyển sang làn đường thứ 2 chạy hướng Cần Thơ – Vĩnh Long. Lúc Trần Ngọc B cho xe chuyển hướng ra Quốc lộ 1 thì có anh Lê Đức Phi L đang điều khiển xe 64B2 -383.45 lưu thông trên làn đường thứ 2 theo hướng Cần Thơ - Vĩnh Long. Do Trần Ngọc B chuyển hướng bất ngờ, không nhường đường cho xe của anh L đang lưu thông trên đường chính (Quốc lộ 1) nên xe mô tô anh L điều khiển đụng vào xe ô tô tải 51C - 355.40 gây tai nạn. Hậu quả làm anh Lê Đức Phi L bị thương nặng được đưa đến Bệnh viện đa khoa trung ương Cần Thơ cấp cứu, đến ngày 31/5/2021 anh L tử vong.
Theo Kết luận giám định pháp y tử thi số 294/KLGĐ – PC09 ngày 01/6/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Long kết luận nguyên nhân tử vong của Lê Đức Phi L là do chấn thương sọ não.
Căn cứ vào kết quả khám nghiệm hiện trường, kết quả dựng lại hiện trường vụ tai nạn giao thông đường bộ xảy ra ngày 30/5/2021 xác định được lỗi vi phạm và nguyên nhân gây ra vụ tai nạn do Trần Ngọc B điều khiển xe ô tô tải cầu 51C -355.40 chuyển hướng từ cây xăng trong lề phải ra Quốc lộ 1 không nhường đường cho xe mô tô 64B2 – 383.45 do anh Lê Đức Phi L điều khiển lưu thông trên đường chính (Quốc lộ 1 theo hướng Cần Thơ – Vĩnh Long). Hành vi này của Trần Ngọc B đã vi phạm vào khoản 3 Điều 24 Luật giao thông đường bộ năm 2008 quy định “Tại nơi đường giao nhau giữa đường không ưu tiên và đường ưu tiên hoặc giữa đường nhánh và đường chính thì xe đi từ đường không ưu tiên hoặc đường nhánh phải nhường đường cho xe đi trên đường ưu tiên hoặc đường chính từ bất kỳ hướng nào tới”.
Tại bản Cáo trạng số: 65/CT-VKSBM ngày 08/11/2021, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Minh đã truy tố Bị cáo Trần Ngọc B về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa sơ thẩm:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Minh giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên Bị cáo Trần Ngọc B phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt Bị cáo Trần Ngọc B mức án từ 09 tháng đến 01 năm tù, miễn hình phạt bổ sung cho Bị cáo. Về trách nhiệm dân sự không đặt ra xem xét. Về xử lý vật chứng: Trả lại cho Bị cáo 01 giấy phép lái xe hạng E.
- Bị cáo Trần Ngọc B khai nhận Cáo trạng đã nêu đúng hành vi phạm tội của Bị cáo. Lời nói sau cùng, Bị cáo ăn năn hối cải, xin được hưởng án treo.
- Ông Lê Đức L và bà Lê Thị N không yêu cầu Bị cáo bồi thường gì thêm, xin cho Bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và Người làm chứng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa không rõ lý do. Xét thấy quá trình điều tra những người này đã có lời khai đầy đủ tại Cơ quan điều tra, sự vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc xét xử Bị cáo nên Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử vắng mặt họ theo Điều 292, Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Lời khai của Bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với Sơ đồ và Biên bản khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện, Bản kết luận giám định pháp y, Biên bản ghi lời khai và Biên bản hỏi cung Bị can, Biên bản ghi lời khai Người làm chứng tại Cơ quan điều tra cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ để xác định vào ngày 30/5/2021, Bị cáo Trần Ngọc B điều khiển xe ô tô tải cẩu biển số 51C – 355.40 đến Km 2063 + 300 Quốc lộ 1 thuộc ấp B, xã B, thị xã Bình Minh thì ghé vào cây xăng Tuyết S để đổ dầu. Sau khi đổ dầu xong, Bị cáo điều khiển xe từ trong cây xăng ra Quốc lộ 1 để chuyển sang làn đường thứ 2 để về Long An nhưng không nhường đường cho các xe đang lưu thông trên đường chính là Quốc lộ 1. Khi xe của Bị cáo điều khiển vừa sang làn đường thứ hai thì va chạm vào xe mô tô biển số 64B2 – 383.54 do anh Lê Đức Phi L điều khiển đang lưu thông theo hướng Cần Thơ về Vĩnh Long, vi phạm khoản 3 Điều 24 của Luật giao thông đường bộ gây tai nạn làm anh L tử vong sau đó. Hành vi của Bị cáo Trần Ngọc B đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Hành vi phạm tội của Bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông gây hậu quả nghiêm trọng, làm chết một người. Bị cáo điều khiển xe ô tô tải cẩu từ phía trong đi ra không nhường đường cho xe đang lưu thông trên đường chính dẫn đến tai nạn.
Hiện nay, tai nạn giao thông là vấn nạn nhức nhối của xã hội, Nhà nước đã có nhiều biện pháp tuyên truyền, giáo dục qua nhiều năm, bằng nhiều hình thức, nhưng vẫn còn một bộ phận người dân có ý thức rất kém như Bị cáo, cần phải áp dụng mức hình phạt tương xứng mới đủ tác dụng giáo dục riêng đối với Bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
Tuy nhiên, Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ là đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối lỗi, đã tự nguyện bồi thường thiệt hại theo yêu cầu của gia đình Bị hại, đại diện hợp pháp của Bị hại xin bãi nại cho Bị cáo, mẹ của Bị cáo là người có công với cách mạng nên giảm nhẹ theo quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), đồng thời do Bị cáo có nơi thường trú ổn định, chấp hành tốt pháp luật nên không cần thiết phải cách ly Bị cáo ra khỏi xã hội và miễn hình phạt bổ sung cho Bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và gia đình Bị hại đã thỏa thuận mức bồi thường tổng cộng các khoản là 95.000.000 đồng, Bị cáo và anh Cao Thanh T đã khắc phục xong. Ông Lê Đức L và bà Lê Thị N không yêu cầu Bị cáo bồi thường gì thêm nên không đặt ra xem xét.
Đối với anh Cao Thanh T không yêu cầu Bị cáo trả lại số tiền 95.000.000 đồng mà anh T đã bồi thường cho gia đình Bị hại và không yêu cầu Bị cáo bồi thường việc chiếc xe ô tô tải biển số 51C – 355.40 bị hư hỏng nên không đặt ra xem xét.
Đối với việc xe ô tô tải biển số 51C – 355.40 có tham gia mua bảo hiểm của Công ty Bảo hiểm A, phía Công ty Bảo hiểm đã chi trả cho anh T số tiền 95.000.000 đồng, anh T đã nhận đủ tiền và không yêu cầu gì thêm nên không đặt ra xem xét.
Đối với chiếc xe mô tô biển số 64B2 – 383.45 anh L có tham gia mua bảo hiểm của Công ty Bảo hiểm T, phía Công ty Bảo hiểm đã chấp nhận bồi thường cho anh L số tiền 10.000.000 đồng, ông L không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này nên không đặt ra xem xét.
Về xử lý vật chứng: Đối với giấy phép lái xe hạng E của Bị cáo, do không áp dụng hình phạt bổ sung nên trả lại cho Bị cáo.
Về án phí: Buộc Bị cáo Trần Ngọc B phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố Bị cáo Trần Ngọc B phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt:
Bị cáo Trần Ngọc B 01 (Một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (Hai) năm được tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 21/01/2022.
Giao Bị cáo Trần Ngọc B cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An để giám sát, giáo dục.
Trong thời gian thử thách, nếu Bị cáo thay đổi nơi cư trú sẽ thực hiện theo Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu Bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc Bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo.
Miễn hình phạt bổ sung cho Bị cáo Trần Ngọc B.
2. Về trách nhiệm dân sự:
Người đại diện hợp pháp của Bị hại, anh Cao Thanh T không có yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
Dành cho ông Lê Đức L và Công ty Bảo hiểm T một vụ kiện khác khi có yêu cầu.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Trả lại cho Bị cáo Trần Ngọc B 01 giấy phép lái xe hạng E số: 790131423886 do Sở Giao thông Vận tải Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 07/5/2019 mang tên Trần Ngọc B theo Biên bản giao vật chứng, tài sản ngày 16/11/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Bình Minh.
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tỏa án.
Buộc Bị cáo Trần Ngọc B nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bị cáo, Người đại diện hợp pháp của Bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Vĩnh Long: 01 - VKSND tỉnh Vĩnh Long: 01 - VKSND TX. Bình Minh: 01 - Chi cục THADS TX. Bình Minh: 01 - Công an TX. Bình Minh: 01 - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Long: 01 - UBND xã Long Hựu Đông: 01 - Các Bị cáo, đại diện Bị hại, Người có QLNVLQ; - Lưu: 04 | Trần Quốc Huy |