vanban.org

Bản án 10/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên Tuyên án 22/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 02 (Hai) năm tù.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 1,37gam Heroine khối lượng còn lại sau khi giám định, 04 mảnh nilon màu trắng, 01 bật lửa ga màu tím, 01 mảnh giấy bạc có vết cháy xém. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "nguyễn văn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 02 (Hai) năm tù.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
T PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐIỆN BIÊN
Bản án số: 10/2022/HS-ST
Ngày 22 - 11 - 2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN T PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- T phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Thương Huyền

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Thái

Bà Nguyễn Thị Lan

- Thư ký phiên tòa: Bà Quàng Thị Thu - Thư ký Tòa án nhân dân T phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân T phố Điện Biên Phủ tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị T Tú - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân T phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công Ki vụ án hình sự thụ lý số: 12/2022/HSST, ngày 19 tháng 10 năm 2022; Quyế định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2022/QĐXXST-HS, ngày 08 tháng 11 năm 2022, đối với bị cáo.

Họ và tên: Nguyễn Văn T (Tên gọi khác: Không) - Sinh năm 1974; Nơi sinh: T phố H N; Nơi ĐKHKTT: Thôn Y N, xã Đ Q, huyện Q, T phố H N; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới T: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn K (đã chết) và bà Nguyễn Thị T (Đã chết); Vợ: Phạm Thị H, con có 03 con, con lớn nhất sinh năm 1997, con nhỏ nhất sinh năm 2010; Tiền án, tiền sự: Không;

Về nhân thân: Năm 2015 bị cáo bị Công an huyện Quốc Oai xử phạt vi phạm Hnh chính về Hnh vi đánh bạc. Ngày 12/5/2016 bị cáo đã chấp Hnh xong quyết định xử lý Hnh chính.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ từ ngày 04/7/2022, sau đó bị áp dụng biện pháp tạm giam cho đến ngày xét xử (có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 14 giờ 15 phút, ngày 04/7/2022, tổ công tác Công an T phố Điện Biên Phủ, kiểm tra lưu trú tại nH nghỉ Hải Anh 1, thuốc tổ dân phố 4, phường Mường T, T phố Điện Biên Phủ phát hiện Nguyễn Văn T đang ngồi trên giường tại phòng số 303 của nH nghỉ, T Ki vừa sử dụng ma túy xong. Tổ công tác kiểm tra thu giữ phía cuối giường ngủ 01 bật lửa ga màu tím và một mảnh giấy bạc đã bị đốt cháy xém màu trắng. Thu giữ dưới đệm cuối giường ngủ 04 gói được gói bằng nilon màu trắng, Thanh Ki là Heroine, vào khoảng 12 giờ 10 phút cùng ngày T đã đi thuê xe ôm của người không quen biết đi xuống Bản Xôm, xã Thanh An, huyện Điện Biên hỏi mua của người T niên không biết tên tuổi với giá 800.000 đồng được 5 gói (04 gói được gói bằng nilon màu trắng 01 giói được gói bằng mảnh giấy bạc màu trắng), sau khi mua được Heroine T đã mang về phòng số 303 của nH nghỉ Hải Anh 1 và lấy 04 gói T cất ở vị trí góc trái giường ngủ của phòng nghỉ còn 01gói T mở ra cho ma túy lên mảnh giấy bạc bật lửa hít, sau khi hít ma túy xong T vứt vỏ gói ma túy xuống bồn cầu và xả nước thì bị Tổ công tác vào kiểm tra phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Vật chứng thu giữ gồm: 1,57gam Heroine, 04 mảnh nilon màu trắng, 01 bật lửa ga màu tím, 01 mảnh giấy bạc có vết cháy xém.

Tại bản kết luận giám định số: 987/GĐ-PC09 ngày 11/7/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Điện Biên đã kết luận: Mẫu chất bột màu trắng ký hiệu H1, H2, H3, H4 gửi giám định là chất ma túy: Loại Heroine. Khối lượng: 1,57 gam. Heroine nằm trong danh mục các chất ma túy STT: 9, mục IA, Danh mục I, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018, sau khi giám định hoàn lại 1,37 gam Heroine.

Tại bản cáo trạng số: 133/CT-VKSTPĐBP ngày 19/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân T phố Điện Biên Phủ đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249/BLHS.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân T phố Điện Biên Phủ giữ quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38/BLHS: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47/BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106/BLTTHS tịch thu tiêu hủy: 1,37gam Heroine còn lại sau khi giám định, 04 mảnh nilon màu trắng, 01 bật lửa ga màu tím, 01 mảnh giấy bạc có vết cháy xém.

Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến tranh luận gì về phần luận tội và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng: Bị cáo đã nhận thức được Hnh vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về Hnh vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã Ki nhận Hnh vi phạm tội của mình phù hợp với bản từ Ki, biên bản khám xét, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng; Kết luận giám định, Kết luận điều tra, các bản cung, biên bản ghi lời Ki, có trong hồ sơ vụ án cũng như cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo, có đủ cơ sở khẳng định: Vào 14 giờ 15 phút, ngày 04/7/2022 tại phòng số 303 nH nghỉ Hải Anh 1, thuốc tổ dân phố 4, phường Mường T, T phố Điện Biên Phủ bị cáo đã có Hnh vi tàng trữ 1,57gam Heroine, mục đích để bản thân bị cáo sử dụng. Hnh vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu T tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249/BLHS.

"1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc các một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt từ 01 năm đến 05 năm:

...c) Heroine,... có khối lượng từ 0,1 gam đến 05 gam"

Về T chất, mức độ, động cơ Hnh vi phạm tội của bị cáo: Vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng. Hnh vi cất giấu trái phép ma túy nhằm mục đích sử dụng của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến chế độ độc quyền quản lý của NH nước về các chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây mất trật tự tại địa phương, gây dư luận xấu trên địa bàn. Mặt khác ma túy là hiểm họa của loài người, là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm khác, bị cáo thiếu ý thức chấp Hnh pháp luật nên bị cáo đã đi mua ma túy cất giấu để phục vụ nhu cầu bản thân sử dụng, bị cáo đã coi thường pháp luật. Chính vì vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về Hnh vi phạm tội mà mình đã gây ra. Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo, để giáo dục bị cáo trở T công dân tốt và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo:

- Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà bị cáo đã T khẩn Ki báo về Hnh vi phạm tội của mình nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51/BLHS.

- Về nhân thân của bị cáo: Năm 2015 bị cáo bị Công an huyện Quốc Oai xử phạt vi phạm Hnh chính về Hnh vi đánh bạc. Ngày 12/5/2016 bị cáo đã chấp Hnh xong quyết định xử lý Hnh chính. Bị cáo có nhân thân xấu.

. Hình phạt mà Đại diện Viện kiểm sát đề nghị là có căn cứ, tương xứng với T chất, mức độ Hnh vi phạm tội, nhân thân của bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Cần thiết phải áp dụng mức hình phạt tù phù hợp, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục, cho bị cáo có thời gian cai nghiện để trở T công dân tốt, có ý thức tuân thủ pháp luật.

. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249/BLHS thì ngoài hình phạt chính người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng... Tuy nhiên theo các tài liệu, chứng cứ và lời Ki của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo là người nghiện ma túy, không có tài sản gì có giá trị và bị cáo đi chấp Hnh án. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo vì bị cáo không có khả năng thi Hnh.

. Về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 1,37gam Heroine khối lượng còn lại sau khi giám định, 04 mảnh nilon màu trắng, 01 bật lửa ga màu tím, 01 mảnh giấy bạc có vết cháy xém theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 47/BLHS và điểm a, c khoản 2 Điều 106/BLTTHS.

. Các vấn đề khác: Đối với người thanh niên đã bán ma túy cho bị cáo quá trình điều tra không xác minh làm rõ được, Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát không đề cập nên hội đồng xét xử không xem xét xử lý.

. Về các Hnh vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về Hnh vi, quyết định của Cơ quan tiến Hnh tố tụng, người tiến Hnh tố tụng. Do đó, các Hnh vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến Hnh tố tụng, người tiến Hnh tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 331; 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án;

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 02 (Hai) năm tù. Thời hạn chấp Hnh hình phạt tù T từ ngày bị tạm giữ (04/7/2022).

2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo

3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 1,37gam Heroine khối lượng còn lại sau khi giám định, 04 mảnh nilon màu trắng, 01 bật lửa ga màu tím, 01 mảnh giấy bạc có vết cháy xém.

(Vật chứng đã được Công an T phố Điện Biên Phủ bàn giao sang Chi cục Thi Hnh án dân sự T phố Điện Biên Phủ theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/10/2022);

4. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (22/11/2022)./. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Bị cáo;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSNDTPĐBP;

- VKSND tỉnh ĐB;

- Cơ quan điều tra Công an TP ĐBP

- Cơ quan THAHS TP ĐBP;

- TAND tỉnh Điện Biên;

- Trại tạm giam;

- Sở Tư pháp tỉnh ĐB;

- Chi cục THADS TP ĐBP;

Trần Thị Thƣơng Huyền

- HS THAHS;

- Lưu hồ sơ vụ án;

- Lưu VP. T VIỆN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Trần Thị Thƣơng Huyền Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Bị cáo;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSNDTPĐBP;

- VKSND tỉnh ĐB;

- Cơ quan điều tra Công an TP ĐBP

- Cơ quan THAHS TP ĐBP;

- TAND tỉnh Điện Biên;

- Trại tạm giam;

- Sở Tư pháp tỉnh ĐB;

- Chi cục THADS TP ĐBP;

Trần Thị Thƣơng Huyền

- HS THAHS;

- Lưu hồ sơ vụ án;

- Lưu VP. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Bị cáo;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSNDTPĐBP;

- VKSND tỉnh ĐB;

- Cơ quan điều tra Công an TP ĐBP

- Cơ quan THAHS TP ĐBP;

- TAND tỉnh Điện Biên;

- Trại tạm giam;

- Sở Tư pháp tỉnh ĐB;

Trần Thị Thƣơng Huyền

- Chi cục THADS TP ĐBP;

- HS THAHS;

- Lưu hồ sơ vụ án;

- Lưu VP. T VIỆN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Trần Thị Thƣơng Huyền

Cỡ chữ