- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn Minh VPGT - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015…"
- Tòa quyết gì? Buộc bị cáo Phạm Văn M phải chấp hành hình phạt bổ sung cấm hành nghề lái xe trong thời gian 02 (hai) năm kể từ ngày tuyên án.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƢƠNG THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 10/2022/HS-ST Ngày 11-3-2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƢƠNG - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hương.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đặng Tăng Thông
Bà Bùi Thị Nhàn
- Thư ký phiên toà: Ông Ngô Trí Thắng - Thư ký, Toà án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Lại Văn Quyền - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 3 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 86/2021/TLS-HS ngày 21 tháng 12 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2022/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 01 năm 2022 và Thông báo thay đổi lịch xét xử số: 22/TB-TA ngày 22 tháng 02 năm 2022 đối với bị cáo:
Phạm Văn M, sinh ngày 28 tháng 4 năm 1993, tại Hải Dương. Nơi cư trú: Thôn H, xã K, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 9/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn T, con bà Nguyễn Thị P; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 24 tháng 9 năm 2021; có mặt.
- Bị hại: Bà Đồng Thị Y, sinh năm 1961; địa chỉ: Thôn A, xã Đ, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng (đã chết).
- Người đại diện hợp pháp của bị hại: Chị Lý Thị O, sinh năm 1982; Chị Lý Thị H, sinh năm 1984; Anh Lý Thuyết Đ, sinh năm 1986; Cùng địa chỉ: Thôn A, xã Đ, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
- Bị đơn dân sự: Công ty Cổ phần Thương mại vận tải và sản xuất Anh Thư; địa chỉ: SH4.12A, Khu đô thị Vinhomes Marina, Cầu Rào 2, phường Vĩnh Niệm, Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.
- Người đại diện hợp pháp của bị đơn dân sự: Bà Đinh Thị Thanh H, sinh năm 1982; địa chỉ: SH4.12A, Khu đô thị Vinhomes Marina, Cầu Rào 2, phường Vĩnh Niệm, Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
- Người làm chứng: Chị Lý Thị H. Anh Lý Ngọc T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Văn M, có giấy phép lái xe hạng B2, là lái xe của Công ty Cổ phần Thương mại vận tải và sản xuất Anh Thư (gọi tắt công ty Anh Thư), ở số 633, đường Thiên Lôi, phường Vĩnh Niệm, Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng. Khoảng 21 giờ 40 phút ngày 23/5/2021, M điều khiển xe ô tô 8 chỗ biển kiểm soát 15A-350.06 trên Quốc lộ 5, ở làn đường dành cho xe ô tô, tiếp giáp với dải phân cách giữa, chiều đường Hải Phòng đi Hà Nội với tốc độ khoảng 70km/h. Khi điều khiển xe đến đoạn lối mở thuộc Km 81 + 500 Quốc lộ 5, thôn An Phú, xã Đại Bản, huyện An Dương, M nhìn thấy bà Đồng Thị Y, sinh năm 1961, trú tại thôn A, xã Đ, huyện An Dương, Hải Phòng đi bộ từ làn đường xe thô sơ, xe mô tô, hướng về phía dải phân cách giữa. Do thiếu quan sát, M không giảm tốc độ xe, để có thể dừng lại một cách an toàn, không nhường đường cho bà Đồng Thị Y, góc đầu bên phải xe ô tô do M điều khiển đã đâm vào người bà Y, làm bà Y ngã văng về phía trước, xe ô tô do M điều khiển tiếp tục va chạm với dải phân cách giữa rồi mới dừng lại. Bà Đồng Thị Y bị thương, chết trên đường đưa đi cấp cứu.
Sau khi xảy ra vụ tai nạn, Cơ quan điều tra đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện, trưng cầu giám định để xác định dấu vết, chiều hướng, trạng thái, vị trí va chạm trên mặt đường, giữa xe ô tô biển kiểm soát 15A - 350.06 với bà Đồng Thị Y.
Kết quả khám nghiệm xác định: Hiện trường xảy ra vụ tai nạn giao thông đường bộ là đoạn Km 81 + 500, Quốc lộ 5, chiều đường Hải Phòng đi Hà Nội, thuộc địa phận thôn An Phú, xã Đại Bản, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng. Đoạn đường trải nhựa áp phan nhẵn phẳng, chiều đường được chia làm 03 làn đường (làn đường dành cho xe ô tô tiếp giáp với dải phân cách giữa rộng 3,55m; làn đường dành cho xe ô tô ở giữa rộng 3,5m và làn đường xe thô sơ, xe mô tô rộng 4,25m); các làn đường được phân định với nhau bằng vạch kẻ sơn không liên tục.
Hiện trường có 01 đám lá rau xanh, cuống rau xanh, túi nilon trong diện 2,25m x1,7m nằm rải rác trên mặt đường tại 02 làn đường dành cho xe ô tô, điểm gần nhất và xa nhất của đám dấu vết lần lượt cách dải phân cách giữa 2,85m và 4,55m; điểm gần nhất của đám dấu vết cách lối mở dải phân cách giữa 33.8m. Một đám dấu vết trượt xước, vỡ bê tông, kích thước trong diện 2,2m x 0,3m tại vỉa bê tông dải phân cách giữa, có chiều hướng từ Hải Phòng về phía Hà Nội, điểm đầu của đám dấu vết cách lối mở dải phân cách giữa 39,83m (3). Một đám dấu vết máu, kích thước trong diện 0,8m x 0,6m, tại làn đường dành cho xe ô tô ở giữa, điểm gần nhất của đám dấu vết cách dải phần cách giữa 4,92m, cách điểm đầu đám dấu vết trượt xước, vỡ bê tông là 12,6m. Một xe ô tô biển kiểm soát 15A - 350.06 đỗ trên làn đường dành cho xe ô tô, tiếp giáp dải phân cách giữa, đầu xe hướng về phía Hà Nội, sau xe hướng về phía Hải Phòng, trục trước và trục sau xe cách dải phân cách giữa 0,24m, trục sau xe ô tô cách điểm đầu đám dấu vết trượt xước, vỡ bê tông 12,9m. Một đám dấu vết nhựa vỡ, thủy tinh vỡ rải rác trên mặt đường, trong diện 5,1m x 3,2m, điểm gần nhất và xa nhất của đám dấu vết lần lượt cách dải phân cách giữa 0,39m và 3,59m, cách điểm gần nhất cách đám dấu vết trượt xước, vỡ bê tông là 4,8m.
Khám xe ô tô biển kiểm soát 15A - 350.06, có các dấu vết: Kính chắn gió phía trước có đám dấu vết vỡ nứt, bẹp lõm theo chiều từ trước về sau, từ phải sang trái, dải rác trong diện 60cm x 97cm; điểm vỡ nứt, bẹp lõm tập trung tại góc dưới bên phải, bề mặt ngoài phần bẹp lõm có bám dính tạp chất dạng lông tóc. Ốp nhựa tại vị trí tiếp giáp giữa kính chắn gió với nắp capô bên phải rời khỏi vị trí lắp giáp. Ốp kim loại thành xe bên phải đoạn tiếp giáp với kính chắn gió phía trước bị bẹp méo, xô lệch theo chiều từ trước về sau, từ trên xuống dưới, từ phải sang trái. Lắp capô bị bẹp méo tại góc trên bên phải theo chiều từ trước về sau, từ phải sang trái. Cụm đèn pha phía trước bên phải bị vỡ khuyết, tập trung tại góc phía trước bên phải. Đèn gầm phía dưới bên phải không còn tại vị trí lắp ráp. Chắn đà phía trước bên trái có đám dấu vết trượt xước theo chiều từ trước về sau, bề mặt bám dính tạp chất dạng bụi đất. Lốp trước bên trái không còn hơi, bề mặt má lốp có đám dấu vết trượt, thủng khuyết; bề mặt la zăng của má lốp này có dấu vết trượt xước, vỡ khuyết. Cạnh bên trái thành xe có đám dấu vết trượt xước theo chiều từ trước về sau.
Quá trình điều tra, đại diện công ty Anh Thư đã giao nộp 01 chiếc USB; anh Vũ Cao A, sinh năm 1974, trú tại A7, phường Quán Toan, Quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng đã giao nộp 01 chiếc USB; ông Hoàng Đình C, sinh năm 1963, trú tại thôn An Phú, xã Đại Bản, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng đã giao nộp 01 chiếc USB chứa các đoạn clip liên quan đến vụ tai nạn giao thông đường bộ cho cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện An Dương.
Tại Bản kết luận giám định số 45/GĐCH-PC09 ngày 08/7/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng kết luận: Dấu vết rạn nứt, vỡ lan tỏa theo chiều từ ngoài và trong, mặt ngoài góc dưới bên phải (bên phụ) bám dính tạp chất dạng lông, tóc tại kính chắn gió phía trước xe ô tô biển kiểm soát 15A - 350.06 có đặc điểm giống với đặc điểm được hình thành khi xe ô tô biển kiểm soát 15A- 350.06 va chạm với phần đầu của nạn nhân Đồng Thị Y. Dấu vết mài trượt xước, mất sơn lộ nhựa màu đen phía trong, bám dính tạp chất màu nâu, màu trắng (dạng bụi đất và bột đá) theo chiều từ trước về sau tại mặt ngoài góc dưới, bên trái cản trước và dấu vết trượt, rách thủng cao su, mài trượt xước, vỡ khuyết kim loại, bề mặt bám dính tạp chất màu nâu (dạng bụi đất, cát) theo chiều từ ngoài vào tâm, ngược chiều chuyển động tiến của bánh xe tại mặt ngoài má lốp và cạnh ngoài la-zăng bánh trước bên trái xe ô tô biển kiểm soát 15A- 350.06 phù hợp với đám dấu vết (3) trong “Biên bản khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông” của Công an huyện An Dương.
Tại bản Kết luận giám định pháp y về tử thi số 139/2021/TT ngày 26/5/2021 của Trung tâm pháp y Hải Phòng kết luận: NguY nhân bà Đồng Thị Y chết vì đa chấn thương: chấn thương sọ não và chấn thương ngực nặng.
Bản Cáo trạng số 04/CT-VKS-AD ngày 21/12/2021 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng đã truy tố bị cáo Phạm Văn M về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa Phạm Văn M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như sau: Khoảng 21 giờ 40 phút bị cáo điều khiển xe ô tô 8 chỗ biển kiểm soát 15A - 350.06 trên Quốc lộ 5 với tốc độ khoảng 70km/h ở làn đường dành cho ô tô. Khi bị cáo điều khiển xe đến đoạn lối mở thuộc Km 81 + 500 Quốc lộ 5, thôn A, xã Đại Bản, huyện An Dương, do đường vắng bị cáo không giảm tốc độ lên khi bị cáo nhìn thấy bà Đồng Thị Y đi bộ từ làn đường xe thô sơ, xe mô tô, hướng về phía dải phân cách giữa. Bị cáo đánh tay lái sang phía giải phân cách để tránh bà Y nhưng không kịp, góc đầu bên phải xe ô tô đã đâm vào người bà Y, làm bà Y ngã văng về phía trước, hậu quả bà Y chết. Bị cáo xác định bản thân vi phạm pháp luật, việc điều tra, truy tố, xét xử là đúng người đúng tội.
Công bố lời khai của người làm chứng phù hợp với lời khai của bị cáo.
Sau phần xét hỏi công khai tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên toà trình bày lời luận tội đối với bị cáo. Qua phân tích hành vi phạm tội, đánh giá tính chất vụ án, nêu các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, giữ nguY quan điểm truy tố đề nghị Hội đồng xét xử tuY bố bị cáo phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 5 Điều 260 Bộ luật Hình sự; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phạm Văn M từ 15 tháng đến 18 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày đi thi hành án.
Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt bổ sung cấm hành nghề lái xe trong thời gian 02 năm.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tạm giữ 01 giấy phép lái xe hạng B2 số 310136005337 do Sở giao thông vận tải thành phố Hải Phòng cấp ngày 04/10/2013 mang tên Phạm Văn M để đảm bảo thi hành án.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện An Dương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện An Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về chứng cứ xác định có tội, tội danh và tình tiết định khung hình phạt:
Lời khai nhận của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, người làm chứng, phù hợp với nội dung biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường và biên bản khám nghiệm phương tiện, phù hợp với Kết luận giám định số 45/GĐCH-PC09 ngày 08/7/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hải Phòng; Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 139/2021/TT ngày 25/6/2021 của Trung tâm pháp y thành phố Hải Phòng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đã có đủ căn cứ kết luận khoảng 21 giờ 40 phút ngày 23/5/2021, Phạm Văn M điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 15A - 350.06, đi trên Quốc lộ 5 theo hướng Hải Phòng đi Hà Nội. Khi đến khu vực Km 85 + 500 thôn A, xã Đại Bản, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng, do thiếu quan sát, khi thấy người đi bộ qua đường M không nhường đường, không giảm tốc độ để dừng lại một cách an toàn nên đầu xe ô tô do M điều khiển đã đâm vào bà Đồng Thị Y đang đi bộ sang đường làm bà Y chết. Hành vi của Phạm Văn M đã vi phạm quy định tại khoản 6 Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ giao thông vận tải quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuY dùng tham gia giao thông đường bộ; khoản 4 Điều 11, khoản 1 Điều 12 Luật giao thông đường bộ. Tại bản Kết luận giám định pháp y về tử thi số 139/2021/TT ngày 26/5/2021 của Trung tâm pháp y Hải Phòng kết luận: NguY nhân bà Đồng Thị Y chết vì đa chấn thương: Chấn thương sọ não và chấn thương ngực nặng. Kết quả đo nồng độ cồn, kết luận giám định ma túy đối với Phạm Văn M đo ngày 24/5/2021 là 0.000mg/l (không có ethanol trong khí thở). Hành vi phạm tội của bị cáo đã vi phạm điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Tính chất vụ án nghiêm trọng hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm hại đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, gây thiệt hại đến tính mạng của người khác. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội do vô ý nên hành vi phạm tội của bị cáo cần được xử phạt một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Xét về lỗi: Căn cứ vào tài liệu hồ sơ vụ án do Cơ quan điều tra thu thập cho thấy khi Phạm Văn M điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 15A - 350.06 tham gia giao thông trên đường. Mặc dù khu vực trước và trong lối mở đối diện ga Dụ Nghĩa có nhiều báo hiệu đường bộ (cụm vạch giảm tốc độ, đèn tín hiệu giao thông loại đèn cảnh báo nguy hiểm mầu vàng, biển báo giao thông vị trí người đi bộ qua đường) do thiếu quan sát, khi thấy bà Đồng Thị Y đi bộ sang đường M không nhường đường, không giảm tốc độ để dừng lại một cách an toàn nên đầu xe ô tô do M điều khiển đã đâm vào bà Y, hậu quả bà Y chết. Do vậy, Hội đồng xét xử xác định bị cáo là người có lỗi chính trong vụ án, bị hại có một phần lỗi do đi bộ qua đường không đúng phần đường quy định.
- Về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Sau khi phạm tội bị cáo đã cùng với chủ xe bồi thường toàn bộ thiệt hại cho gia đình bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại chị Lý Thị H, chị Lý Thị O có quan điểm đề nghị Tòa án giảm nhẹ cho bị cáo nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xét thấy bị cáo phạm tội nghiêm trọng, sau khi gây tai nạn bỏ trốn không cứu giúp người bị hại, không tuân thủ các quy định về an toàn giao thông đường bộ hậu quả làm người bị hại chết. Do vậy, cần áp dụng Điều 38 Bộ luật hình sự buộc bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian nhất định để cải tạo giáo dục bị cáo.
- Về hình phạt bổ sung:
Theo quy định tại khoản 5 Điều 260 Bộ luật Hình sự bị cáo có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ hoặc cấm hành nghề, hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm. Xét tính chất, mức độ tội phạm của bị cáo cấm hành nghề lái xe trong thời gian 02 (hai) năm kể từ ngày tuyên án.
- Về trách nhiệm dân sự và các vấn đề khác:
Sau khi phạm tội bị cáo đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho gia đình bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại không còn yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xét.
Chiếc xe ô tô biển kiểm soát 15C-350.06 bị cáo đã điều khiển gây tai nạn là của Công ty Cổ phần Thương mại Vận tải và Sản xuất Anh Thư khi xẩy ra tai nạn xe bị hư hỏng nhẹ. Công ty Cổ phần Thương mại Vận tải và Sản xuất Anh Thư không yêu cầu bị cáo phải bồi thường. Do vậy, về trách nhiệm dân sự trong vụ án không còn gì phải xét.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra Công an huyện An Dương đã trả lại chiếc xe ô tô biển kiểm soát 15A - 350.06 và các giấy tờ xe ô tô cho Công ty Cổ phần Thương mại vận tải và sản xuất Anh Thư quản lý, sử dụng.
Giấy phép lái xe hạng hạng B2 số 310136005337 do Sở giao thông vận tải thành phố Hải Phòng cấp ngày 04/10/2013 mang tên Phạm Văn M; 03 chiếc USB chứa dữ liệu camera ghi nhận nội dung, diễn biến vụ việc Cơ quan điều tra đã thu giữ trong vụ án. Đối với 03 chiếc USB đã được lưu hồ sơ để giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Tạm giữ giấy phép lái xe của bị cáo để đảm bảo thi hành án hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 5 Điều 260 Bộ luật Hình sự; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Phạm Văn M 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ ”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày đi thi hành án.
Buộc bị cáo Phạm Văn M phải chấp hành hình phạt bổ sung cấm hành nghề lái xe trong thời gian 02 (hai) năm kể từ ngày tuyên án.
Tiếp tục áp dụng biện pháp Cẩm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Phạm Văn M đến thời điểm đi chấp hành án. Thời hạn cấm đi khỏi nơi cư trú của bị cáo không được quá thời hạn kể từ khi tuyên án cho đến thời điểm bị cáo đi chấp hành phạt tù.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tạm giữ 01 giấy phép lái xe hạng hạng B2 số 310136005337 do Sở giao thông vận tải thành phố Hải Phòng cấp ngày 04/10/2013 mang tên Phạm Văn M để đảm bảo thi hành án hình phạt bổ sung.
Trong trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội ban hành ngày 30 tháng 12 năm 2016 buộc bị cáo Phạm Văn M phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo Phạm Văn M có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuY án.
Người đại diện hợp pháp của bị hại, bị đơn dân sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND thành phố Hải Phòng; - VKSND thành phố Hải Phòng; - VKSND huyện An Dương; - Cơ quan điều tra Công an huyện An Dương; - Cơ quan Thi hành án hình sự huyện An Dương; - Phòng PV6 CATP; Phòng PC 10 CATP; Sở Tư pháp HP; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Dương; - Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, bị đơn dân sự;. - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Hƣơng |