vanban.org

Bản án 10/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An Tuyên án 24/02/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1- Tuyên bố bị cáo: Thái Doãn P phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

2- Về điều luật áp dụng: Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án số 10/2022/HS-ST ngày 24/02/2022 - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2…"
  • Tòa quyết gì? 1- Tuyên bố bị cáo: Thái Doãn P phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN KỲ
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2022/HS-ST
Ngày: 24-02-2022.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN KỲ - TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà: Nguyễn Thị Vân Anh

2. Ông: Thái Khắc Ngọc

Thư ký phiên toà: Ông Lê Thanh Bình - Cán bộ Toà án nhân dân huyện Tân Kỳ làm thư ký

Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Kỳ tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hòe - Kiểm sát viên.

Trong ngày 24 tháng 02 năm 2022, tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 87/2022/HSST, ngày 14/01/2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2022/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 02 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An, đối với bị cáo:

Họ và tên: Thái Doãn P; sinh ngày: 03/10/2003 tại: huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Xóm V, xã N, huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; con ông: Thái Doãn N, sinh năm: 1972 và bà: Lương Thị T, sinh năm: 1977; Vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/12/2021 đến nay. Có mặt.

- Người chứng kiến: Ông Nguyễn Xuân T, sinh năm: 1964. Trú tại: Xóm T, xã L, huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 19 giờ 30 phút ngày 20/12/2021, do lên cơn nghiện ma túy nên Thái Doãn P đi xuống xã B để tìm mua ma túy về sử dụng. Khi đến khu vực quảng trường xã B, Thái Doãn P đã gặp một nam thanh niên quen ở Thành phố Hồ Chí Minh nên dừng lại nói chuyện. Qua nói chuyện biết người này cũng sử dụng ma túy nên Thái Doãn P hỏi: “Anh có đá không để cho em ít” (Ý là hỏi mua ma túy “đá”) thì người này nói: “Có, lấy mấy”. Nghe vậy, Thái Doãn P lấy số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) đưa cho người này. Khoảng 10 phút sau, nam thanh niên trên quay lại đưa cho Thái Doãn P (01) gói nhỏ được gói bên ngoài lớp ni lông màu trắng, nhìn thấy bên trong có chất tinh thể rắn màu trắng. Biết là chất ma túy cần mua nên Thái Doãn P cất dấu vào lòng bàn tay rồi xin nhờ xe người đi đường đến địa phận xã L, huyên Tân Kỳ thì xuống xe đi bộ tìm nơi để sử dụng ma túy. Đến khoảng 20 giờ 30 phút khi Thái Doãn P đang đi bộ trên Quốc lộ 48E thuộc xóm T, xã L, huyện Tân Kỳ thì bị tổ Công tác Đội Cảnh sát giao thông Công an huyện Tân Kỳ phối hợp với Công an xã L kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra phát hiện trong lòng bàn tay trái của Thái Doãn P có cất dấu 01 gói nhỏ được gói bên ngoài lớp ni lông màu trắng, nhìn thấy bên trong có chất tinh thể rắn màu trắng (nghi là ma túy tổng hợp).

Đến 23 giờ 15 phút cùng ngày 20/12/2021, Cơ quan CSĐT Công an huyện Tân Kỳ đã thành lập hội đồng mở niêm phong cân xác định khối lượng, lấy mẫu gửi giám định và niêm phong lại: Sau khi loại bỏ bao bì, số tinh thể rắn màu trắng nghi là chất ma túy trong 01 (Một) gói được bọc bên ngoài là lớp nilong màu trắng có khối lượng 0,67g(Không phẩy sáu mươi bảy gam). Cơ quan CSĐT Công an huyện Tân Kỳ đã lấy 0,19g (Không phẩy mười chín gam) chất tinh thể rắn màu trắng gửi đi giám định. Số còn lại gồm vỏ bao bì và số chất tinh thể rắn màu trắng có khối lượng 0,48g (Không phẩy bốn mươi tám gam) được niêm phong lại trong 01 (Một) phong bì thư có chữ ký của Thái Doãn P, người chứng kiến cùng các thành viên tham gia niêm phong.

Tại bản kết luận giám định số 31 ngày 24/12/2021 Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: Mẫu chất tinh thể dạng rắn màu trắng thu giữ của Thái Doãn P gửi tới giám định là ma túy (Methaphetamine), có khối lượng 0,67g (Không phẩy sáu mươi bảy gam).

Vật chứng của vụ án:

- 01 (Một) phong bì thư số 02 có kích thước 12x18cm xung quanh có viền màu xanh đỏ trước đề chữ: Phong bì thư số 02 đựng vỏ bao bì và chất tinh thể rắn màu trắng nghi là ma túy còn lại 0,48g (Không phẩy bốn mươi tám gam) phát hiện thu giữ của Thái Doãn P, Sinh năm: 2003, trú tại: xóm V, xã N, huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An ngày 20/12/2021 tại xóm T, xã L, huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An để lại”.

Tại bản Cáo trạng số: 10/CT-VKS-TK ngày 12 tháng 01 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Kỳ đã truy tố bị cáo Thái Doãn P về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Kỳ vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:

a. Về trách nhiệm hình sự: Bị cáo Thái Doãn P phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

* Hình phạt chính: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 BLHS, xử phạt Thái Doãn P mức án từ 18 đến 21 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/12/2021.

* Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

b. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS, điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS tịch thu, tiêu hủy: 0,48g (Không phẩy bốn mươi tám gam) ma túy (Methamphetamine) còn lại sau khi đã lấy mẫu gửi đi giám định, thu giữ của Thái Doãn P, là tang vật vụ án.

c. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Thái Doãn P phải chịu 200.000 đồng tiền án phí HSST.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Thái Doãn P có lời nói sau cùng: Bị cáo bị truy tố và xét xử về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy là đúng người, đúng tội. Bị cáo thật sự rất hối hận về hành vi phạm tội của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt để được trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Kỳ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Kỳ, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS). Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Hội đồng xét xử xét thấy các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

Về nội dung: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo Thái Doãn P đã khai nhận hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, đúng như nội dung của bản cáo trạng đã nêu và quy kết, không có khai nại gì khác. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, được lập vào ngày 20/12/2021, phù hợp với vật chứng, lời khai của người chứng kiến, cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Như vậy, đã đầy đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 20 giờ 30 phút, ngày 20/12/2021, tại quốc lộ 48E thuộc địa bàn xóm T, xã L, huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An, Đội Cảnh sát giao thông Công an huyện Tân Kỳ phối hợp với Công an xã L phát hiện và bắt quả tang Thái Doãn P đang thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 0,67g (Không phẩy sáu mươi bảy gam) ma túy Methamphetamin, nhằm mục đích sử dụng.

Tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 5 năm;

a) …

c) Methamphetamine, …có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.

Như vậy: Hành vi tàng trữ 0,67g (Không phẩy sáu mươi bảy gam) ma túy (Methamphetamine) nhằm mục đích sử dụng của Thái Doãn P đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Kỳ truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Vụ án có tính chất nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước trong việc quản lý đối với các loại chất ma túy. Tệ nạn sử dụng trái phép chất ma túy trong thời gian gần đây có xu hướng gia tăng, không những gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, trị an trong xã hội, gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân mà còn trực tiếp làm suy kiệt giống nòi, gây ra hiểm họa HIV-AIDS và là tác nhân của nhiều loại tệ nạn, tội phạm khác. Thái Doãn P là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ ma túy của mình là trái pháp luật, nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện tội phạm, vì vậy cần phải xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc, việc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung là thật sự cần thiết.

Về tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 249 BLHS quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng,… tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Tuy nhiên, qua kết quả xác minh tại địa P, xét thấy bị cáo không tài sản riêng, thu nhập từ lao động làm thuê tự do, không ổn định nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Trong vụ án này, theo lời khai của Thái Doãn P thì nguồn gốc số ma túy mà Thái Doãn P tàng trữ là mua của một người thanh niên tại khu vực quảng trường xã B, huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An. Quá trình điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được người thanh niên trên là ai. Vì vậy, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

Về vật chứng vụ án, gồm: 01 (Một) phong bì thư có đựng vỏ bao bì và số ma túy (Methamphetamine) còn lại (sau khi đã lấy mẫu giám định) có khối lượng 0,48g (Không phẩy bốn mươi tám gam) ma túy (Methamphetamine) thu giữ của Thái Doãn P. Đây là số ma túy (Methamphetamine) còn lại sau khi lấy mẫu gửi giám định là chất Nhà nước cấm lưu hành, tàng trữ, sử dụng, nên áp dụng Điều 47 BLHS, điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS để tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo Thái Doãn P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1- Tuyên bố bị cáo: Thái Doãn P phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

2- Về điều luật áp dụng:

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS

Xử phạt: Thái Doãn P 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo, ngày 20/12/2021.

Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

3- Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 BLHS, điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS, tiêu hủy: 0,48g (Không phẩy bốn mươi tám gam) ma túy (Methamphetamine) còn lại sau giám định và vỏ bao bì niêm phong trong phong bì thư.

Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 14/01/2022 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện Tân Kỳ và Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Kỳ.

4- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS năm 2015, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 về án phí lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Thái Doãn P phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5- Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An.

Cỡ chữ