- Tranh chấp gì? án hình sự — "Ban an HS - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 10/2022/HS-ST Ngày: 08-11-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lường Văn Quyết.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Quàng Văn Tiện.
2. Ông Lò Văn Viễn.
- Thư ký phiên toà: Bà Lý Thị Thuỳ Linh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã tham gia phiên tòa: Ông Trần Mạnh Hùng – Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 11 năm 2022, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 08/2022/TLST-HS ngày 07 tháng 10 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2022/QĐXXST-HS ngày 25/10/2022, đối với bị cáo:
Lò Văn D, tên gọi khác: Không, sinh năm 1982; nơi cư trú: Bản Đ, xã N, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa (học vấn): 05/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lò Văn E và con bà: Lò Thị T; vợ là: Lò Thị I và 02 người con: Con lớn sinh năm 2006, con nhỏ sinh năm 2008; tiền án, tiền sự : Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/6/2022 cho đến nay. Có mặt tại phiên toà.
Người có quyền lợi, nghĩa vu liên quan: Bà Lò Thị Inh, sinh năm 1988 (vợ bị cáo). Trú tại: Bản Đ, xã N, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 12 giờ 05’ ngày 27/6/2022, tổ công tác Công an xã N, huyện Sông Mã làm nhiệm vụ tại khu vực bản Đ, xã N, Sông Mã phát hiện 01 người đàn ông đang điều khiển xe máy có biểu hiện nghi vấn phạm tội về ma túy, tổ công tác ra tín hiệu yêu cầu dừng xe kiểm tra, người đàn ông khai nhận là Lò Văn D, sinh năm 1982 trú tại bản Đ, xã N, Sông Mã. Quá trình làm việc, tổ công tác có yêu cầu D tự giác giao nộp các đồ vật liên quan đến hành vi vi phạm pháp luật, D đã tự lấy trong lòng bàn tay trái 01 gói nilon màu xanh, bên trong có chứa chất bột liên kết màu trắng (D khai nhận là Heroine) giao nộp cho tổ công tác. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng theo quy định. Ngoài ra còn tạm giữ của D 01 xe máy nhãn hiệu Detech BKS 26AA- 132.94.
Ngày 18/5/2022 tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sông Mã đã thành lập Hội đồng bóc, mở niêm phong cân tịnh khối lượng vật chứng và trích mẫu giám định, kết quả: Cân tách bì số chất bột màu trắng thu giữ của D có tổng khối lượng là 0,14gam. Đã trích toàn bộ 0,14gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu D.
Tại bản Kết luận giám định số 1149/KL-KTHS ngày 29/6/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La, kết luận:
- Mẫu gửi giám định ký hiệu D là ma túy; loại Heroine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,14 gam.
- Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,14gam; loại Heroine.
Quá trình điều tra xác định được như sau:
Lò Văn D sử dụng chất ma túy từ năm 2019. Khoảng 11 giờ ngày 27/6/2022, D điều khiển xe máy nhãn hiệu Detech BKS 26AA- 132.94 đi từ nhà đến bản H, xã N, Sông Mã để tìm mua ma túy sử dụng cho bản thân. Khi đến bản H, D gặp một người đàn ông dân tộc Mông không biết tên, tuổi, địa chỉ đang đi bộ ở ven đường, D liền điều khiển xe máy tiến lại gần nói chuyện và hỏi mua được của người đàn ông dân tộc Mông này 01 gói Heroine với giá 30.000VNĐ. Sau khi mua được ma túy, D cầm trong lòng bàn tay trái rồi điều khiển xe máy đi về. Khi về đến khu vực bản Đ, xã N, Sông Mã thì bị tổ công tác Công an xã N, Sông Mã làm nhiệm vụ phát hiện bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng nêu trên.
Cáo trạng số: 142/CT-VKSSM ngày 06 tháng 10 năm 2022 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, truy tố Lò Văn D về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự. Phạt bị cáo từ 15 đến 20 tháng tù. Bị cáo không có tài sản, là dân tộc thiểu số, cư trú tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn hình phạt bổ sung (là phạt tiền) và án phí; vật chứng xử lý theo quy định của pháp luật; bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo.
Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vu liên quan không có ý kiến tranh luận, sau khi được nói lời sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an huyện Sông Mã - Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện huyện Sông Mã - Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về chứng cứ xác định tội danh:
- Hồi 12 giờ 05 phút ngày 12/8/2022, Lò Văn D bị tổ công tác Công an xã N, huyện Sông Mã bắt quả tang về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Tang vật thu giữ được của Lò Văn D 01 gói Nilon màu xanh, bên trong chứa chất bột liên kết màu trắng, theo kết luận giám định là ma tuý, loại Heroine, có khối lượng 0,14gam, mục đích Tàng trữ để sử dụng cá nhân.
- Tại phiên toà, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình; lời khai nhận hoàn toàn thống nhất với lời khai tại cơ quan Điều tra, phù hợp với biên bản phạm tội quả tang và lời khai của người làm chứng; lời khai nhận của bị cáo cũng phù hợp với nội dung, tội danh của bản Cáo trạng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Quá trình xét hỏi, tranh luận không phát sinh tình tiết mới. Như vậy, Hội đồng xét xử có cơ sở kết luận: Bị cáo Lò Văn D phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma tuý", tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó, khởi tố của cơ quan Điều tra và truy tố tội phạm của Viện kiểm sát đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét tính chất, mức độ hành vi của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm sự quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy. Hành vi của bị cáo gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây bức xúc trong nhân dân. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết hành vi Tàng trữ ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện. Do đó, cần có mức hình phạt tương xứng và cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và để phòng ngừa chung.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo có một tình tiết giảm nhẹ là (người phạm tội thành khẩn khai báo) quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
5] Về vấn đề khác liên quan trong vụ án:
- Đối với người đàn ông dân tộc Mông theo bị cáo khai đã bán ma túy cho bị cáo tại địa phận bản H, xã N, Sông Mã. Do bị cáo không biết tên, địa chỉ cụ thể người này nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra, mở rộng vụ án là có căn cứ, cần chấp nhận.
- Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Detech BKS 26AA- 132.94 tạm giữ trong vụ án được xác định là tài sản hợp pháp của bị cáo và vợ bị cáo là Lò Thị I. Ngày 27/6/2022, bị cáo sử dụng chiếc xe máy làm phương tiện đi mua ma túy thì bà Lò Thị I không được biết. Kết quả tra cứu chiếc xe máy không phải là vật chứng trong vụ án khác.
- Tại phiên toà, bà Lò Thị I có ý kiến: Chiếc xe máy là phương tiện duy nhất để phục vụ cuộc sống của gia đình. Khi bị cáo sử dụng đi phạm tội thì bà Inh không biết và không liên quan. Nay đề nghị xin lại tài sản là chiếc xe. Do vậy, cần xem xét trả lại xe cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
6] Vật chứng của vụ án còn lại: 01 mảnh nilon màu xanh và 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở là vật không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu huỷ.
7] Về hình phạt bổ sung và án phí: Bị cáo không có tài sản, là dân tộc thiểu số, cư trú tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn hình phạt bổ sung (là phạt tiền) và án phí.
Đối với quan điểm của Kiểm sát viên về nội dung, tội danh và các vấn đề khác đối với bị cáo đều phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Lò Văn D phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt: Lò Văn D 16 (mười sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 27/6/2022.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu huỷ: 01 mảnh nilon màu xanh và 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở.
- Trả lại cho bà Lò Thị I: 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu ESPERO DETECH,
màu
trắng-đen;
BKS:
26AA-132.94;
số
máy: VDEJQ139FMB3432641, số khung: RPEVCB4PEJA432641; xe không có gương chiếu hậu; phần vỏ xe bị vỡ, nát nhiều chỗ; không kiểm tra máy móc bên trong, xe đã qua sử dụng và cũ nát.
(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 134 ngày 06/10/2022 của Viện kiểm sát huyện Sông Mã và biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/10/2022 giữa Chi cục thi hành án dân sự và Công an huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La).
3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14. Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án ngày 08/11/2022.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sơn La - Sở Tư pháp tỉnh Sơn La; - VKSND huyện; - THA hình sự; - CCTHA Dân sự; - Bị cáo; - Lưu: Hồ sơ, án văn. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lường Văn Quyết |