- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án HS: Cao Văn L - Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Cao Văn L phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƯ THANH TỈNH THANH HÓA ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 10/2022/HS-ST Ngày 18 - 5 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƯ THANH, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Đình Huy
Các Hội thẩm nhân dân: - Bà Lê Thị Giang
- Bà Trần Thị Gấm
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đình Chiến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện như thanh, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Mai Cẩm Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 09/2022/TLST-HS ngày 14 tháng 4 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2022/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 5 năm 2022 đối với bị cáo:
Cao Văn L - Sinh ngày 28/8/1999 tại xã T, huyện N1, tỉnh Thanh Hóa
Nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện N1, tỉnh Thanh Hóa
Nghề nghiệp: Lái xe;
trình độ văn hóa: 9/12;
Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam;
Con ông Cao Văn T và bà Nguyễn Thị L;
Bị cáo chưa có vợ;
Tiền án: Không; tiền sự: không.
Bị cáo tại ngoại - Có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại: Anh L Văn Đ - sinh năm 1986 (đã chết)
Địa chỉ: thôn Y, xã X, huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa
Người đại diện hợp pháp của bị hại: Chị Lô Thị T - sinh năm 1982
Địa chỉ: thôn Y, xã X, huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa
Vắng mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Chị Lô Thị T - sinh năm 1982 (đồng thời là người đại diện hợp pháp của bị hại)
Địa chỉ: thôn Y, xã X, huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa
Vắng mặt.
- Ông Nguyễn Ngọc H - sinh năm 1976
Địa chỉ: khu phố X, thị trấn B, huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa
Có mặt.
* Người làm chứng:
- Anh Nguyễn Văn V - sinh năm 2001
Địa chỉ: KP. X, thị trấn B, huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa
Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 15 giờ 00 phút ngày 09/01/2022, ông Nguyễn Ngọc H SN 1976, trú tại khu phố X, thị trấn B, huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa thuê Cao Văn L sinh năm 1999, trú tại thôn Đ, xã T, huyện N1, tỉnh Thanh Hóa lái xe ô tô BKS 36C-099.83 chở gạch vồ giao cho khách ở xã X, huyện Như Thanh. Khoảng 17 giờ 20 phút cùng ngày, L điều khiển xe ô tô từ thị trấn B đi qua Dốc Cục (thuộc xã X) được khoảng 300-400m thì gặp anh L Văn Đ, sinh năm 1986, trú tại thôn Y, xã X, huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa đang điều khiển xe đạp di chuyển cùng chiều với L. Khi xe ô tô BKS 36C-099.83 cách xe đạp của anh Đ khoảng 10-20m, L bóp còi xe ô tô để vượt lên. Thấy anh Đ đã di chuyển sang lề đất bên phải đường (theo chiều di chuyển), L điều khiển xe ô tô vượt qua xe đạp. Trong khi vượt xe đạp do anh Đ điều khiển, L quan sát thấy phía trước khoảng 40-50m có 01 xe mô tô đang di chuyển ngược chiều; phía sau khoảng 05-10m có 01 người phụ nữ điều khiển xe mô tô di chuyển cùng chiều với L. Khi đầu xe ô tô BKS 36C-099.83 đã vượt qua xe đạp của anh Đ, bánh sau của xe ô tô gần vượt qua xe đạp thì L đánh lái sang bên phải theo chiều đi của mình để tránh xe mô tô di chuyển ngược chiều thì va quẹt vào xe đạp của anh Đ. Làm anh Đ loạng choạng, rồi ngã vào bánh sau bên phải của xe ô tô, bị bánh xe ô tô đè qua người. Hậu quả anh L Văn Đ tử vong tại chỗ, xe đạp do anh Đ điều khiển bị hư hỏng nhẹ.
Quá trình khám nghiệm hiện trường đã xác định: Đoạn đường nơi xảy ra tai nạn tại Km 15+850, tỉnh lộ 505B thuộc địa phận thôn Y, xã X, huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa. Đoạn đường được rải nhựa bằng phẳng rộng 3,55m, không có vạch kẻ phân làn. Hai bên có lề đất, lề hướng Tây Bắc, lề hướng Đông Nam lần lượt rộng 1,5m và 1,8m. Đoạn đường cong 15o sang bên phải theo chiều đi từ thị trấn B đi xã X. Xung quanh hiện trường không phát hiện camera an ninh trật tự. Khám nghiệm hiện trường phát hiện các dấu vết: (1) Từ điểm hình chiếu của cột điện (ký hiệu: 041P ở hướng Nam của hiện trường) 3,8m ra lòng đường, tịnh tiến về hướng Đông Bắc 8,6m phát hiện trục trước bên trái của xe ô tô BKS:36C-099.83, xe ở trạng thái dừng đứng dọc theo đường nhựa, đầu xe hướng Tây Nam, đuôi xe hướng Đông Bắc, trục trước và trục sau bên trái của xe lần lượt cách mép chuẩn 1,15m – 1,05m. (2) Cách trục sau bên trái xe ô tô về hướng Bắc 2,9m phát hiện đỉnh đầu tử thi L Văn Đ, tử thi ở trạng thái nằm sấp, đầu hướng Nam, chân hướng Bắc; đỉnh đầu và gót chân trái tử thi lần lượt cách mép chuẩn 2,87m - 3,87m.(3) Cách gót chân trái tử thi lần lượt 0,61m - 1,1m phát hiện trục trước và trục sau xe đạp màu đỏ đen, ở trạng thái nằm nghiêng trái, đầu xe hướng Tây Nam đuôi xe hướng Đông Bắc. (4) Tại vùng đầu tử thi phát hiện tổ hợp vết máu loang, tổ chức não kích thước (0,6x0,66)m; tâm vết cách mép chuẩn và trục sau xe ô tô lần lượt 3,1m-3m. (5) Cách tổ hợp dấu vết máu loang, tổ chức não về hướng Tây 1,25m phát hiện tổ chức não kích thước (0,3x0,25)m; tâm vết cách trục sau bên trái xe ô tô BKS:36C-099.83 và mép chuẩn lần lượt 2,95m - 3,75m.
Tại bản Kết luận giám định số 475/GĐPY-PC09 ngày 18/01/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận: Nguyên nhân dẫn đến anh L Văn Đ chết là do đa chấn thương.
Trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ thu thập được, Công an huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Cao Văn L về hành vi “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
* Về vật chứng của vụ án:
- Chủ sở hữu hợp pháp của xe ô tô BKS 36C-099.83 là ông Nguyễn Ngọc H ở khu phố X, thị trấn B, huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa. Cơ quan CSĐT Công an huyện Như Thanh đã trả lại phương tiện cho chủ sở hữu; ông H đã nhận xe ô tô và không có yêu cầu gì.
- Chiếc xe đạp mà anh L Văn Đ điều khiển là của chị Lô Thị T (vợ anh L Văn Đ) nên cơ quan CSĐT Công an huyện Như Thanh đã trả lại phương tiện cho chị T, chị T không có yêu cầu gì.
- Gấy phép lái xe ô tô hạng C mang tên Cao Văn L được chuyển kèm theo hồ sơ vụ án.
* Về trách nhiệm dân sự
- Quá trình điều tra, Cao Văn L và gia đình đã thỏa thuận đền bù dân sự cho gia đình bị hại tổng số tiền là 180.000.000 đồng. Gia đình bị hại đã nhận đủ số tiền trên và không có yêu cầu đề nghị gì về phần dân sự.
Tại bản cáo trạng số 11/CT- VKS ngày 13/4/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hoá đã truy tố bị cáo Cao Văn L về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên toà Kiểm sát viên tham gia phiên toà giữ nguyên quan điểm đã truy tố về tội danh và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; của Bộ luật Hình sự.
Đề nghị xử phạt bị cáo: Cao Văn L từ 15 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo
Về hình phạt bổ sung: Đề nghị miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị không xem xét.
Về vật chứng: Đề nghị trả ngay tại phiên tòa cho bị cáo 01 giấy phép lái xe ô tô mang tên Cao Văn L.
Về án phí: Đề nghị buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Tại phiên toà:
Bị cáo Cao Văn L thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã nêu. Tại cơ quan điều tra bị can Cao Văn L đã khai báo thành khẩn hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với kết quả khám nghiệm hiện trường và các tài liệu chứng cứ khác mà Cơ quan điều tra thu thập được
Bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng: Bị cáo nói lời sau cùng, đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Như Thanh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Thanh, và của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại và những người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều được coi là đúng pháp luật.
Về sự vắng mặt của người đại diện hợp pháp cho bị hại, HĐXX xét thấy giữa bị cáo và gia đình bị hại đã thỏa thuận về phận dân sự. Sự vắng mặt của người tham gia tố tụng nói trên không trở ngại cho việc xem xét trách nhiệm hình sự của bị cáo và không ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự vắng mặt nên HĐXX vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Tại phiên toà bị cáo Cao Văn L đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời trình bày của bị cáo phù hợp với lời khai tại giai đoạn điều tra, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xác minh tại phiên toà. Do đó, có đủ cơ sở để khẳng định: Khoảng 17 giờ 20 phút ngày 09/01/2022, tại đoạn tỉnh lộ 505B thuộc địa phận thôn Y, xã X, huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa, đoạn đường cong 150 về về bên phải, Cao Văn L sinh năm 1999, cư trú tại thôn Đ, xã T, huyện N1, Thanh Hóa điều khiển xe ô tô BKS 36C-099.83 vượt xe đạp đi cùng chiều do anh L Văn Đ điều khiển nhưng đã không đảm bảo điều kiện về khoảng cách và vị trí vượt; dẫn đến xe ô tô va quẹt phải anh L Văn Đ. Hậu quả anh Đ tử vong tại chỗ. Hành vi của bị cáo điều khiển xe ô tô là nguồn nguy hiểm cao độ; tại đoạn đường cong, không đảm bảo điều kiện về khoảng cách an toàn và vị trí vượt nhưng bị cáo vẫn điều khiển ô tô vượt xe đạp đi cùng chiều là vi phạm các điểm a, c khoản 5 Điều 14 của Luật Giao thông Đường bộ. Như vậy nguyên nhân dẫn đến vụ tai nạn giao thông trên là do Cao Văn L có lỗi toàn bộ. Hành vi và hậu quả của Cao Văn L gây ra đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa truy tố bị cáo theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự là hoàn toàn chính xác. Điều 260 BLHS quy định:
“Điều 260 BLHS. Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây hiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây,thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Làm chết người;
b)……
…….."
6. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”
Đối với anh L Văn Đ, điều khiển xe đạp tham gia giao thông trong tình trạng vượt quá nồng độ cồn cho phép 115,57mg/100ml máu là vi phạm khoản 8 Điều 8 của Luật Giao thông Đường bộ. Nhưng hành vi vi phạm của anh Đ không phải là nguyên nhân dẫn đến tai nạn; mặt khác anh Đ đã tử vong nên không xem xét trách nhiệm pháp lý đối với anh.
Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo là người có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, tuy hậu quả xảy ra nằm ngoài ý muốn của bị cáo, nhưng hành vi vi phạm Luật giao thông đường bộ khi tham gia giao thông là lỗi cố ý của bị cáo. Hành vi trên là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm hại đến an toàn giao thông đường bộ, gây thiệt hại đến tính mạng sức khỏe và tài sản của người khác. Vì vậy cần xử lý nhanh chóng, kịp thời để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Hành vi của bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi gây hậu quả bị cáo đã tự giác bồi thường toàn bộ thiệt hại cho gia đình bị hại, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng theo quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, người đại diện cho bị hại có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, thể hiện: Bị cáo không có tiền án, tiền sự, đây là lần đầu phạm tội. Ngoài ra, bản thân bị cáo có nơi cư trú ổn định, rõ ràng.
Căn cứ vào tính chất mức độ hành vi, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ điều kiện để giáo dục bị cáo mà không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo có là lao động chính trong gia đình; chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú đã xác nhận gia đình bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn. Xét thấy nếu áp dụng hình phạt bổ sung thì gia đình bị cáo sẽ lâm vào tình trạng khó khăn đặc biệt, nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về phần dân sự: Bị cáo và gia đình bị hại đã thỏa thuận xong phần bồi thường thiệt hại. Người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu giải quyết phần dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về vật chứng của vụ án:
- Chiếc xe ô tô BKS 36C-099.83 là ông Nguyễn Ngọc H; chiếc xe đạp mà anh L Văn Đ điều khiển là của chị Lô Thị T (vợ anh L Văn Đ), cơ quan CSĐT Công an huyện Như Thanh đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp các vật chứng trên là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Gấy phép lái xe ô tô hạng C mang tên Cao Văn L không mang dấu vết tội phạm; Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo nên trả lại cho bị cáo giấy phép lái xe nói trên là phù hợp.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo thuộc trường hợp phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án; Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Thanh, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa có quyền kháng nghị bản án theo quy định tại các Điều 331; 333; 336; 337 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Cao Văn L phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Cao Văn L 15 (mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 30 (ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (18/5/2022).
Giao bị cáo Cao Văn L cho UBND xã T, huyện N1, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trong trường hợp người đang chấp hành án treo chuyển đi nơi khác thì cơ quan, tổ chức giám sát, giáo dục có trách nhiệm thông báo ngay cho Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện để Công an làm thủ tục cần thiết giao cho cơ quan, tổ chức nơi người đó chuyển đến tiếp tục giám sát, giáo dục và thông báo bằng văn bản cho Toà án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp.
Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Trả ngay tại phiên tòa cho bị cáo 01 Gấy phép lái xe ô tô hạng C mang tên Cao Văn L.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23; của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; buộc bị cáo Cao Văn L phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331; 333; 336; 337 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, tuyên: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án; Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Thanh, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa có quyền kháng nghị bản án theo quy định của pháp luật.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND huyện Như Thanh; - Công an huyện Như Thanh; - Bị cáo; - Người đại diện hợp pháp của bị hại; - Người bào chữa bị cáo; - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; - Thi hành án (để thi hành); - Phòng giám đốc án TA tỉnh Thanh hoá - Lưu hồ sơ vụ án . | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Đình Huy |