vanban.org

Bản án 10/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 29/03/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bùi Văn N và Đinh Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bùi Văn N 15 (Mười lăm) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 18/12/2021. Xử phạt: Đinh Văn H 15 (Mười lăm) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bùi Văn N và Đinh Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NGỌC LẶC
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:10/2022/HS-ST
Ngày: 29 - 03 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC LẶC, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Phạm Xuân Thành

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Thanh Hùng

2. Bà Phạm Thị Diệu

- Thư ký phiên toà: Ông Lê Trọng Hà - Thư ký Tòa án nhân dân thuyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa

- Đại diện VKSND huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Ông Lê Hồng Ngoạn - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 03 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 06/2022/TLST-HS ngày 26 tháng 01 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2022/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 02 năm 2022 đối với các bị cáo:

1. Bùi Văn N - Sinh ngày 05/05/1991 tại huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa; Nơi thường trú: Thôn T, xã K, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; giới tính Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Con ông: Bùi Văn M ( đã chết ); Con bà: Phạm Thị H - Sinh năm 1966; Vợ Bùi Thị C - Sinh năm 1996; Có 01 con sinh năm 2015; Tiền án; tiền sự Không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 18/12/2021 hiện đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa cho đến nay. Có mặt

2. Đinh Văn H - Sinh ngày 02/09/1996 tại huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa; Nơi thường trú: Thôn P, xã M, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; giới tính Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Con ông: Đinh Văn Ng - Sinh năm 1966; Con bà: Doãn Thị T - Sinh năm 1973; Vợ Phạm Thị Â - Sinh năm 1996; Có 02 con, con lớn sinh năm 2017, con nhỏ sinh năm 2019; Tiền án; tiền sự Không.

Nhân thân

- Ngày 31/12/2021 Đinh Văn H bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã theo Quyết định số 450/QĐ -UBND của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Minh Tiến.

- Ngày 31/12/2021 Đinh Văn H bị công an huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự bằng hình thức phạt cảnh cáo.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Có mặt.

* Người làm chứng:

- Anh Bùi Văn N - Sinh năm 1990. (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn T, xã K, huyện N, tỉnh Thanh Hóa

2. Anh Trương Văn T – Sinh năm 1998. (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn T, xã K, huyện N, tỉnh Thanh Hóa

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 23 giờ 40 phút, ngày 13 tháng 12 năm 2021 Công an xã Kiên Thọ phối hợp vơi lực lượng bảo vệ phát hiện bắt quả tang Bùi Văn N có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, tại khu cách ly y tế tập trung phòng chống dịch Covid-19 thuộc thôn Thành Sơn, xã Kiên Thọ, huyện Ngọc Lặc. Lực lương chức năng phát hiện ma túy được cất dấu trong bao thuốc lá Thăng Long mầu vàng gồm có 02 điếu thuốc lá và một gói ni lông mầu xanh bên trong chứa chất bột mầu trắng, do một đối tượng từ bên ngoài mới chuyển vào cho N.

Qua xác minh Bùi Văn N khai: Khoảng gần 22 giờ cùng ngày, N gọi điện thoại và nhắn tin qua mạng Messenger trao đổi với Đinh Văn H, địa chỉ thôn Phúc Long, xã Minh Tiến nhờ H đến khu cách ly y tế tập trung của xã Kiên Thọ lấy tiền, đi mua hộ ma túy để cho N sử dụng. H đồng ý, rồi lấy xe mô tô của gia đình đến khu cách ly, nhìn thấy H đến, N nói dối là trả nợ và nhờ anh Bùi Văn Ngân là Trưởng thôn, đang thực hiện nhiệm vụ tại khu cách ly đưa ra cho H 500.000 đồng. H cầm tiền rồi điều khiển xe chạy đến khu vực ngã tư thị trấn Ngọc Lặc, gặp một người đàn ông dáng vẻ giống như người nghiện, H chủ động đến làm quen và hỏi có biết nơi nào bán ma túy không, người này hỏi lại H mua loại gì, bao nhiêu tiền, H trả lời hàng trắng rồi đưa cho người đó 500.000 đồng, đứng chờ một lúc sau, người này quay lại đưa cho H một gói ni lông màu xanh có chứa ma túy, nhận được gói ma túy H cất dấu vào người, rồi điều khiển xe quay về, đến khu vực Nghĩa trang thị trấn Ngọc Lặc, H dừng lại lấy một ít Heroine vừa mới mua được ra để sử dụng, sau khi sử dụng xong, H cất dấu phần Heroine còn lại vào trong bao thuốc lá Thăng Long rồi nhắn tin cho N biết là H dấu ma túy trong bao thuốc lá, rồi tiếp tục điều khiển xe mô tô đi đến cổng vào khu cách ly, nhìn thấy N đang đứng chờ trong sân, gần cổng ra vào, H để bao thuốc vào bên trong cổng cho N và nói “em để đây nhé” rồi quay xe bỏ đi. N vừa đi tới nơi để nhận bao thuốc lá bên trong có chứa Heroine thì bị lực lượng bảo vệ và Công an xã Kiên Thọ kiểm tra, phát hiện bên trong bao thuốc lá Thăng Long có 02 điếu thuốc lá và một gói ni lông chứa chất bột màu trắng, tiến hành lập biên bản bắt quả tang, niêm phong vật chứng, và chuyển cho Cơ quan điều tra Công an huyện Ngọc Lặc.

Cơ quan điều tra tiến hành kiểm tra 02 chiếc điện thoại của N và H sử dụng để liên lạc, tại mục tin nhắn Messenger trên điện thoại Iphone 6s tạm giữ của Bùi Văn N còn lưu các nội dung các bị can nhắn tin trao đổi về việc N nhờ H đi mua ma túy hộ cho N

Quá trình điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Ngọc Lặc tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đinh Văn H tại thôn Phúc Long, xã Minh Tiến, nhưng không phát hiện và thu giữ được vật chứng có liên quan đến vụ án.

- Hành vi sử dụng trái chất ma túy của Đinh Văn H tại khu vực nghĩa trang thị trấn Ngọc Lặc, thử TEST ma túy kết quả: Dương tính với ma túy loại Heroine. Cơ quan điều tra đã xử lý hành chính theo Quyết định số 0093725/QĐ-XPHC ngày 31/12/2021.

Cơ quan điều tra tạm giữ phương tiện Đinh Văn H sử dụng để đi mua ma túy là chiếc xe mô tô nhãn hiệu SYM, màu xanh, biển kiểm soát 36 B1-967.73. Quá trình điều tra xác định là tài sản của mẹ bị can là bà Doãn Thị Thọ bị can sử dụng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội, mẹ bị can hoàn toàn không biết nên không có lỗi, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu theo Quyết định xử lý đồ vất, tài liệu số 01/CSĐT ngày 21/01/2022.

Vật chứng: Cơ quan điều tra thu giữ:

- 01 điện thoại IPHONE 6s màu trắng, loại màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong (của Phạm Văn N).

- 01 điện thoại MOBELL màu đỏ, loại màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong (của Đinh Văn H).

- 01 gói ni lông mầu xanh bên trong chứa chất bột mầu trắng, được niêm phong trong phong bì ký hiệu M.

Kết luận giám định số: 45/PC 09 ngày 17/12/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận: Chất bột màu trắng đựng trong gói ni lông màu xanh trong phong bì niêm phong ký hiệu M gửi giám định là ma túy có tổng khối lượng là 0,238 gam loại Heroine. Mẫu vật còn lại sau giám định: Toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong ký hiệu M và 0,226 gam chất bột màu trắng còn lại sau giám định.

Vật chứng được chuyển đến kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện Ngọc Lặc để xử lý theo quy định của pháp luật.

Bản cáo trạng số 09/CT-VKSNL ngày 25/01/2022 của VKSND huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố các bị cáo Bùi Văn N và Đinh Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên tòa Đại diện viện kiểm sát đề nghị hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38; Điều 17 và Điều 58 Bộ luật hình sự cho cả hai bị cáo.

- Mức hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị đối với các bị cáo: Bùi Văn N và Đinh Văn H là từ 13 (Mười ba) đến 16 (Mười sáu) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù đối với bị cáo Bùi Văn N tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 18/12/2021, thời gian chấp hành hình phạt tù đối với bị cáo Đinh Văn H tính từ ngày bắt đi thi hành án.

- Về xử lý vật chứng:

Đề nghị tịch thu tiêu hủy tòa bộ bao gói mở niêm phong bên trong chứa 0,226 gam chất bột màu trắng là heroin còn lại sau giám định hiện đang lưu trữ tại kho chi cục thi hành án dân sự huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa.

Đề nghị tịch thu sung quỹ chiếc điện thoại IPHONE 6S màu trắng loại màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng và chiếc điện thoại MOBELL màu đỏ, loại màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng.

- Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên đề nghị HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo nhận tội thống N với quan điểm luận tội không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, trong lời nói sau cùng bị cáo N và H đều xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Ngọc Lặc, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Lặc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Biên bản bắt người phạm tội quả tang, bản kết luận giám định, lời khai của các bị cáo có trong hồ sơ cũng như tại phiên tòa đã khai nhận rõ: Vào khoảng 23 giờ 40 phút, ngày 13 tháng 12 năm 2021 Công an xã Kiên Thọ phối hợp với lực lượng bảo vệ tại khu vực cách ly y tế tập trung, phòng chống dịch Covid-19 thuộc thôn Thành Sơn, xã Kiên Thọ, huyện Ngọc Lặc, phát hiện bắt quả tang Bùi Văn N có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, quá trình điều tra xác định Đinh Văn H là người đã đi mua hộ ma túy đưa đến khu cách ly cho N cất dấu để sử dụng. Tổng khối lượng là 0,238 gam loại Heroine. Do đó có đủ cơ sở xác định các bị cáo đã có hành vi vi phạm vào điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về tính chất, hành vi phạm tội: Trong những năm qua tình hình về tội phạm ma túy dưới mọi hình thức trong cả nước nói chung và trên địa bàn huyện Ngọc Lặc nói riêng ngày càng tăng. Các vụ án ma túy diễn biến ngày càng phức tạp, tình trạng sử dụng ma túy diễn ra ngày càng nhiều. Có thể nói ma túy là một tệ nạn đang nhức nhối N hiện nay mà Đảng, nhà nước và nhân dân ta đã và đang quyết tâm loại trừ ra khỏi đời sống xã hội, vì ma tuý có tác hại nghiêm trọng đến đời sống, sức khoẻ, hạnh phúc của mọi người, mọi nhà, làm suy thoái về giống nòi, suy đồi về đạo đức, lối sống, ma tuý làm lây lan căn bệnh thế kỷ HIV, do ma tuý mà một loạt các tội phạm khác gia tăng. Các bị cáo đủ nhận thức để hiểu được những tác hại do ma túy gây ra và các hành vi về tàng trữ, mua bán, sử dụng, lôi kéo người khác ... đều vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tới chính sách quản lý độc quyền của nhà nước về ma túy, gây nên dư luận bất bình trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng đến tình hình trật tự an ninh, an toàn xã hội cũng như tiếp tay cho những kẻ buôn bán trái phép chất ma túy. Vì vậy cần phải lên cho các bị cáo một hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của mình.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng, trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo nên cả hai bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS. Trong vụ án này các bị cáo phạm tội mang tính chất đồng phạm giản đơn tuy nhiên cần thiết áp dụng Điều 17 và Điều 58 BLHS căn cứ vào vai trò, hành vi, nhân thân của từng bị cáo để lên cho các bị cáo mức hình phạt tương xứng.

Bùi Văn N là người trực tiếp nhắn tin gọi điện và đưa tiền nhờ Đinh Văn H đi mua ma túy về nhằm mục đích sử dụng, sau khi H mua được ma túy với giá 500.000đ thì Bùi Văn H có lấy ra một ít ma túy để sử dụng, khi H vừa đưa ma túy cho N thì bị phát hiện và bắt quả tang. Xét về hành vi phạm tội thì Bùi Văn N phải chịu trách nhiệm cao hơn Đinh Văn H. Tuy nhiên xét về nhân thân thấy rằng: Ngày 31/12/2021 Đinh Văn H bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã theo Quyết định số 450/QĐ -UBND của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Minh Tiến tại thời điểm xét xử bị cáo đang chấp hành. Ngày 31/12/2021 Đinh Văn H tiếp tục bị công an huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự bằng hình thức phạt cảnh cáo. Cân nhắc giữa nhân thân và trách nhiệm hình sự thấy rằng cả hai bị cáo phải chịu mức hình phạt ngang nhau. Xét thấy hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội nên cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục cũng như để các bị cáo thấy được tính nghiêm minh của pháp luật.

Về xử lý vật chứng:

- 01 phong bì niêm phong bởi 06 hình con dấu và các chữ ký, Phạm Trung Kiên, Nguyễn Trần Đăng, Bùi Thị Thúy Hằng bên trong chứa 0,226 gam chất bột màu trắng (kết luận là heroin) là mẫu vật còn lại sau giám định, đây là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.

- Chiếc điện thoại IPHONE 6s màu trắng, loại màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng, và chiếc điện thoại MOBELL màu đỏ, loại màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng là công cụ phương tiện dùng vào việc phạm tội nên tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo là lao động tự do, không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản cá nhân có giá trị nên miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo là có căn cứ.

Về án phí: Các bị cáo Bùi Văn N và Đinh Văn H phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với cả hai bị cáo Bùi Văn N và Đinh Văn H.

Tuyên bố: Bùi Văn N và Đinh Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bùi Văn N 15 (Mười lăm) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 18/12/2021.

Xử phạt: Đinh Văn H 15 (Mười lăm) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 BLHS; khoản 2 Điều 106 BLTTHS.

Tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bởi 06 hình con dấu và các chữ ký, Phạm Trung Kiên, Nguyễn Trần Đăng, Bùi Thị Thúy Hằng bên trong chứa 0,226 gam chất bột màu trắng (kết luận là heroin) là mẫu vật còn lại sau giám định.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước chiếc điện thoại IPHONE 6s màu trắng, loại màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng, và chiếc điện thoại MOBELL màu đỏ, loại màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng.

Hiện vật chứng, tài sản đang được nhập kho Chi cục thi hành án dân sự huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa theo phiếu nhập kho số NK 2022/014 ngày 25/01/2022 .

Án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng các điều 136; 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Buộc bị cáo Bùi Văn N và Đinh Văn H mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt các bị cáo. Tuyên bố các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ