- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lò Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 10/2022/HS-ST Ngày 03/11/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN- TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên toà: Ông Tráng A Tếnh
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hà Văn Sơ
2. Ông Giàng A Lợ
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Huế – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Như Quỳnh - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 11/2022/TLST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2022 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2022/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 10 năm 2022 đối với bị cáo:
Lò Văn T. Tên gọi khác: không. Sinh ngày 27/02/2004 tại huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi ở: Bản T, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 11/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lò Văn X, sinh năm 1980 và bà Lò Thị Đ, sinh năm 1985; Bị cáo không có vợ, con.
Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/6/2022 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Có mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Lò Văn X, sinh năm: 1980. Địa chỉ: Bản T, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 27/6/2022, Lò Văn T đang ngồi chơi ở phòng trọ của Cầm Văn T (sinh năm 2004, trú tại xã Phiêng Cằm, huyện Mai Sơn) thuộc xã Chiềng Ban, huyện Mai Sơn thì nhận được tin nhắn qua ứng dụng Messenger tên tài khoản Facebook “T Vì Văn” của Vì Văn T (sinh năm 2002, trú tại xã Chiềng Ban, huyện Mai Sơn) nhờ T mua hộ 500.000VNĐ Hồng phiến và hứa sẽ cho T cùng sử dụng, T đồng ý và hẹn T đến phòng trọ của Tiến. Khoảng 10 phút sau, T và một người đàn ông (T không biết tên, địa chỉ) đi xe mô tô hiệu Honda Wave màu trắng (T không nhớ biển kiểm soát) đến. Thấy vậy, T gọi điện thoại qua ứng dụng Messenger cho tên tài khoản Facebook của Tòng Văn N (sinh năm 1997, trú tại xã Chiềng Ban, huyện Mai Sơn) hỏi mua 500.000VNĐ Hồng phiến, N đồng ý và hẹn T lên quán điện tử tại dốc bản Mạt, xã Chiềng Mung, huyện Mai Sơn để giao Hồng phiến. Sau đó, T và người đàn ông đi cùng đưa cho T 600.000VNĐ bảo T mua Hồng phiến hết số tiền này. T cầm tiền rồi điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Nouvo LX biển kiểm soát 26B1 - 591.92 đi đến điểm hẹn thì gặp N đang đứng ở sân bên ngoài quán điện tử, N bảo T cùng ngồi đợi người mang Hồng phiến đến. Khoảng một giờ sau, T đưa cho N 600.000VNĐ, N cầm tiền rồi đi khoảng 05 phút sau quay lại nói với T ma túy đã để vào hốc để đồ xe mô tô của T. T đi ra xe mô tô thì thấy 01 vỏ bao thuốc lá hiệu Thăng Long trong hốc để đồ phía trước bên trái. T điều khiển xe mô tô đi về đến bản Mạt, xã Chiềng Mung, huyện Mai Sơn thì bị Tổ công tác Công an xã Chiềng Mai phối hợp với Công an xã Chiềng Mung, huyện Mai Sơn phát hiện, T khai nhận cất giấu ma túy tại hộc để đồ phía trước bên trái xe mô tô. Kiểm tra tại ví trí trên phát hiện 01 vỏ bao thuốc lá hiệu Thăng Long bên trong có 01 gói nilon màu hồng chứa 11 viên nén màu hồng trên bề mặt mỗi viên đều có ký tự WY nghi là ma túy tổng hợp. Tổ công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Lò Văn T, thu giữ niêm phong gói vật chứng nêu trên và 01 điện thoại di động hiệu Vivo màu hồng kèm theo 02 sim điện thoại di động; 01 xe mô tô hiệu Yamaha Nouvo LX biển kiểm soát 26B1 - 591.92.
Ngày 28/6/2022, Công an huyện Mai Sơn phối hợp với Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La thành lập hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng thu giữ của Lò Văn T, kết quả:
Khối lượng 11 viên nén màu hồng là 1,11 gam, lấy toàn bộ làm mẫu ký hiệu M trưng cầu giám định.
Tại Kết luận giám định số 1153/KLMT ngày 29/6/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận:
“Mẫu gửi giám định ký hiệu M là ma tuý; loại Methamphetamine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 1,11 gam.
Tổng khối lượng ma tuý thu giữ là 1,11 gam; loại Methamphetamine”.
Tại bản cáo trạng số 116/CT-VKSMS ngày 10/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn đã truy tố bị cáo Lò Văn T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa kiểm sát viên giữ N quan điểm truy tố đối với bị cáo theo cáo trạng và đề nghị hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tuyên bị cáo Lò Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Lò Văn T từ 16 tháng đến 20 tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng: Đề nghị căn cứ điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47; điểm a, c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 0,30 gam methamphetamine (được niêm phong theo quy định); vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, vỏ bao thuốc lá, mảnh nilon màu hồng gói ma túy ban đầu (được niêm phong theo quy định).
Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu hồng kèm theo 02 sim điện thoại.
Trả lại cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Lò Văn X 01 xe mô tô hiệu Yamaha Nouvo LX biển kiểm soát 26B1-591.92.
Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy Ban thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Bị cáo Lò Văn T tự bào chữa: Nhất trí với nội dung bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nhất trí với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận trả lại xe cho ông Lò Văn X.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mai Sơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân huyện Mai Sơn, Kiểm sát viên, thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tình tiết định tội: Trước cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Lò Văn T khai nhận do bản thân nghiện chất ma túy, ngày 27/6/2022 bị cáo đã mua hộ Vì Văn T 600.000VNĐ hồng phiến nhằm mục đích để được T cho sử dụng cùng thì bị tổ công tác Công an xã Chiềng Mai phối hợp với Công an xã Chiềng Mung, huyện Mai Sơn phát hiện bắt quả tang, thu giữ số ma túy, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm quả tang lập hồi 15 giờ 30 phút ngày 27/6/2022; kết luận giám định số 1153/KLMT ngày 29/6/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La. Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận số ma túy thu giữ trong vụ án được cân tịnh dưới sự có mặt của bị cáo. Với các chứng cứ nêu trên có đủ căn cứ để kết luận bị cáo Lò Văn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Xét tính chất vụ án: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm về hình sự, bị cáo nhận thức rõ được việc tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố tình mua trái phép chất ma túy nhằm mục đích sử dụng, hành vi của bị cáo là hành vi rất nguy hiểm cho xã hội, làm gia tăng tình trạng mua bán, sử dụng trái phép các chất ma túy, cần có mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung.
Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy nhưng không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải về việc đã làm, bị cáo có ông nội là Lò Văn Giêng được tặng thưởng huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng ba nên cần áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phần nào đối với bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có tài sản có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng, xử lý vật chứng:
Đối với 0,30 gam methamphetamine (được niêm phong theo quy định) là chất độc dược Nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy
Đối với vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, vỏ bao thuốc lá, mảnh nilon màu hồng gói ma túy ban đầu (được niêm phong theo quy định) là vật không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu hồng kèm theo 02 sim điện thoại là tài sản của Lò Văn T, T sử dụng điện thoại vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
Đối với 01 xe mô tô hiệu Yamaha Nouvo LX biển kiểm soát 26B1-591.92 là tài sản hợp pháp của ông Lò Văn X. Ông X không biết T sử dụng xe mô tô trên làm phương tiện đi mua ma túy nên cần trả lại chiếc xe trên cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Lò Văn X.
Về vấn đề khác:
Về nguồn gốc Methamphetamine bị thu giữ, Lò Văn T khai mua của Tòng Văn N, sinh năm 1997, trú tại bản Áng Ưng, xã Chiềng Ban, huyện Mai Sơn. Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mai Sơn triệu tập ghi lời khai của N và tiến hành đối chất giữa T và N, kết quả N không thừa nhận việc bán ma túy cho T. Việc mua bán ma túy giữa N và T không có ai cùng tham gia, chứng kiến. Do đó, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mai Sơn không có căn cứ quy kết Tòng Văn N bán ma túy cho Lò Văn T. Buộc bị cáo Lò Văn T phải chịu trách nhiệm hình sự về khối lượng 1,11 gam Methamphetamine thu giữ trong vụ án.
Đối với Vì Văn T (sinh năm 2002, trú tại bản Áng Ưng, xã Chiềng Ban, huyện Mai Sơn) theo lời khai của Lò Văn T là người đưa tiền nhờ T đi mua Hồng phiến. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mai Sơn đã tiến hành xác minh tại địa chỉ trên có đối tượng Vì Văn T, sinh năm 2002. Tuy nhiên, hiện tại T không có mặt tại địa phương, gia đình và chính quyền địa phương không biết T đang ở đâu, làm gì. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mai Sơn tách hành vi của Vì Văn T tiếp tục xác minh, khi có đủ căn cứ sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.
Đối với người đàn ông theo lời khai của Lò Văn T là người đi cùng Vì Văn T và cùng với T đưa tiền cho T đi mua Hồng phiến, T không biết tên, địa chỉ. Ngoài lời khai của T, không có cơ sở để xác minh nhân thân của người đàn ông này. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mai Sơn sẽ tiếp tục xác minh, khi có đủ căn cứ sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.
Về án phí:
Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở xã vùng III có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn thuộc trường hợp được miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy Ban thường Vụ Quốc Hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Lò Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Lò Văn T 16 (mười sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 27/6/2022).
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền với bị cáo.
2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47; điểm a, c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 0,30 gam methamphetamine (được niêm phong theo quy định); vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, vỏ bao thuốc lá, mảnh nilon màu hồng gói ma túy ban đầu (được niêm phong theo quy định).
Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu hồng kèm theo 02 sim điện thoại.
Trả lại cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Lò Văn X 01 xe mô tô hiệu Yamaha Nouvo LX biển kiểm soát 26B1-591.92.
3. Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sơn La; - Sở tư pháp tỉnh Sơn La; - Viện KSND huyện Mai Sơn; - Công an huyện Mai Sơn; - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Sơn La; - Chi cục THADS huyện Mai Sơn; - Bị cáo; - Người CQLNVLQ; - Lưu: Hồ sơ. TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN TỈNH SƠN LA Vào hồi giờ - Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tráng A Tếnh Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Văn Sơ, ông Giàng A Lợ HS ngày 11 tháng 10 năm 2022 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2022/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 10 năm 2022 đối với bị cáo: Sơn, tỉnh Sơn La. Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi ở: Bản T, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La Căn cứ Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự; tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật. để điều tra bổ sung. Biểu quyết: nhất trí: 3/3 = 100%. sát, Kiểm sát viên thu thập; bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp đều hợp pháp. Biểu quyết: nhất trí: 3/3 = 100%. tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Biểu quyết: nhất trí: 3/3 = 100%. miễn hình phạt. Biểu quyết: nhất trí: 3/3 = 100%. 5. Tội danh, Điều luật áp dụng và hình phạt: Điều 51 Bộ luật Hình sự: phạt bị cáo Lò Văn T ................... tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 27/6/2022). Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền với bị cáo Biểu quyết: nhất trí: 3/3 = 100%. điểm a, c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự. định); vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, vỏ bao thuốc lá, mảnh nilon màu hồng gói ma túy ban đầu (được niêm phong theo quy định). hồng kèm theo 02 sim điện thoại. hiệu Yamaha Nouvo LX biển kiểm soát 26B1-591.92Biểu quyết: nhất trí: 3/3 = 100%. 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Biểu quyết: nhất trí: 3/3 = 100%. vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. đảm bảo cho công tác thi hành án. Biểu quyết: nhất trí: 3/3 = 100%. Nghị án kết thúc vào hồi giờ xử cùng nghe và ký tên. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tráng A Tếnh CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc BIÊN BẢN NGHỊ ÁN ngày 03 tháng 11 năm 2022, tại phòng nghị án. Tiến hành nghị án vụ án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 11/2022/TLST- Lò Văn T. Tên gọi khác: không. Sinh ngày 27/02/2004 tại huyện Mai Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU: 1. Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ hoặc trường hợp trả hồ sơ 2. Những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm 3. Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người 4. Bị cáo Lò Văn T không thuộc trường hợp miễn trách nhiệm hình sự, Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Tuyên bố bị cáo Lò Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xử 6. Về vật chứng, tài sản: Căn cứ điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47; Tịch thu tiêu hủy: 0,30 gam methamphetamine (được niêm phong theo quy Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu Trả lại cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Lò Văn X 01 xe mô tô 7. Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 8. Về quyền kháng cáo đối với Bản án: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa Tiếp tục tạm giam bị cáo trong thời hạn 45 ngày kể từ ngày tuyên án để phút ngày 03 tháng 11 năm 2022. Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét |