- Tranh chấp gì? án hình sự — "vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Thế H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 10/2022/HS-ST Ngày 02-3-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU - TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Trần Thanh Tòng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Vũ Hoà;
2. Ông Trần Văn Thông.
- Thư ký phiên tòa: Bà Ba Thị Thanh Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa:
Bà Mai Thị Diệu Hiền, Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 3 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 80/2021/HS-ST ngày 17 tháng 12 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2022/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 02 năm 2022 đối với bị cáo:
Trần Thế H, sinh năm 1986, tại tỉnh Tây Ninh; nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Ấp 2, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ văn hóa: Lớp 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Trung C (đã chết) và bà Võ Thị N, sinh năm 1954; có vợ là Nguyễn Thị Kim T, sinh năm 1987 và 02 con; tiền án, tiền sự: Không có; áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 02-11-2021; bị cáo tại ngoại (có mặt).
- Bị hại: Chị Nguyễn Thị D, sinh năm 1979 (đã chết).
- Người đại diện hợp pháp của bị hại:
+ Anh Đào Văn B, sinh năm 1978, là chồng của bị hại; địa chỉ cư trú: Ấp T, xã S, Huyện D, tỉnh Tây Ninh; là người đại diện theo pháp luật; vắng mặt.
+ Đào Thị Kim Y, sinh năm 1995; Đào Thị L, sinh năm 1998; là con của bị hại; địa chỉ cư trú: Ấp T, xã S, Huyện D, tỉnh Tây Ninh; là người đại diện theo pháp luật.
Người đại diện hợp pháp của Đào Thị Kim Y, Đào Thị L; là anh Đào Văn B, sinh năm 1978; địa chỉ cư trú: Ấp T, xã S, Huyện D, tỉnh Tây Ninh; là người đại diện theo ủy quyền; văn bản ủy quyền ngày 18-11-2021.
- Bị đơn dân sự: Chị Nguyễn Thị Kim T, sinh năm 1987; địa chỉ cư trú: Ấp 2, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 17 giờ 40 phút, ngày 28 tháng 9 năm 2021, chị Nguyễn Thị D điều khiển xe mô tô biển số biển số 54Y8-1765 lưu thông đi từ hướng xã S, Huyện D về hướng xã P, Huyện D; khi đến khu vực ấp P1, xã P, Huyện D thì chuyển hướng từ phần đường bên phải qua phần đường bên trái theo hướng đi; lúc này, bị cáo Trần Thế H điều khiển xe ô tô biển số 61A-751.45 lưu thông từ hướng xã S về hướng xã P vượt không đảm bảo an toàn đã lấn trái nên xảy ra va chạm với xe mô tô do chị D điều khiển gây tai nạn giao thông, hậu quả chị D tử vong.
Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Trần Thế H đã thừa nhận toàn bộ hành vi của mình.
Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 1262/KL-KTHS ngày 06 tháng 10 năm 2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh kết luận: Nguyên nhân tử vong của chị Nguyễn Thị D là do đa chấn thương nặng.
Kết luận giám định số 1276/KL-KTHS ngày 04 tháng 10 năm 2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh kết luận: Mẫu máu ghi thu của chị Nguyễn Thị D không có nồng độ cồn trong máu. Mẫu máu ghi thu của bị cáo Trần Thế H có nồng độ cồn là 200,294 mg/100 ml máu.
Khi điều khiển xe ô tô biển số 61A-751.45 gây tai nạn, bị cáo Trần Thế H có giấy phép lái xe theo quy định.
Về vật chứng vụ án:
- Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu giữ và giao trả lại cho chị Nguyễn Thị Kim T: 01 xe ô tô, biển số 61A-751.45, số khung ACV308011277, số máy 2AZ3185144, có một số bộ phận bị hư hỏng; 01 (một) khung nhựa chắn bùn xe ô tô kích thước (1m60 x 0m38) cm; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô, biển số 61A-751.45; 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ xe ô tô, biển số 61A-751.45; 01 (một) giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc xe ô tô, biển số 61A-751.45.
- Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu giữ và giao trả lại cho anh Đào Văn B: 01 xe mô tô, biển số 54Y8-1765, số khung CH1HY7C002883, số máy 1P52FMHA017783, có một số bộ phận bị hư hỏng; 01 (một) cụm đèn sau xe mô tô; 01 (một) bánh xe trước xe mô tô; 01 (một) cung chắn bùn sau xe mô tô bằng nhựa có gắn biển số 54Y8-1765.
- Tạm giữ: 01 giấy phép lái xe hạng FC, số 790104013940 mang tên Trần Thế H.
Về trách nhiệm dân sự:
Bị cáo Trần Thế H đã bồi thường cho gia đình bị hại tiền làm đám tang, tổn thất tinh thần và xe mô tô bị hư hỏng; tổng cộng số tiền là 173.000.000 đồng. Gia đình bị hại không yêu cầu gì thêm.
Cáo trạng số 01/CT-VKS-DMC ngày 16 tháng 12 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu đã truy tố bị cáo Trần Thế H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu giữ nguyên cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Trần Thế H từ 30 (ba mươi) tháng đến 36 (ba mươi sáu) tháng tù cho hưởng án treo; ấn định thời gian thử thách là 05 (năm) năm.
+ Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo biết hành vi của mình là sai, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo hưởng án treo để có điều kiện lo cho gia đình và con nhỏ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Huyện Dương Minh Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi của bị cáo thể hiện:
Vào khoảng 17 giờ 40 phút ngày 28-9-2021; bị cáo Trần Thế H có giấy phép lái xe theo quy định, điều khiển xe ô tô biển số 61A-751.45 mà trong máu có nộng độ cồn 200,294 mg/100 ml máu theo hướng từ xã S, Huyện D về xã P, Huyện D khi đến đoạn đường thuộc khu vực ấp P1, xã P, Huyện D, tỉnh Tây Ninh vượt xe không đảm bảo an toàn, lấn trái đã va chạm vào xe mô tô biển số biển số 54Y8-1765 do chị Nguyễn Thị D điều khiển lưu thông cùng chiều phía trước, hậu quả làm chị D tử vong do đa chấn thương nặng.
Căn cứ vào kết quả khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện và các dấu vết để lại hiện trường thì nguyên nhân gây ra tai nạn là do trong quá trình tham gia giao thông đường bộ bị cáo Trần Thế H điều khiển xe vượt không đảm bảo an toàn nên gây ra tai nạn làm chết người, đã vi phạm khoản 2 Điều 14 của Luật Giao thông đường bộ. Do đó, hành vi của bị cáo đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại Điều 260 của Bộ luật Hình sự.
Khi tham gia giao thông gây tai nạn trong máu bị cáo có nồng độ cồn đã vi phạm khoản 1 Điều 35 Luật Phòng chống tác hại của rượu bia. Do đó, bị cáo phải chịu tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự như luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ.
Hành vi nêu trên của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến an toàn công cộng, trật tự công cộng và đã gây thiệt hại đến tính mạng của người khác nên cần có hình phạt tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi bị cáo đã thực hiện để giáo dục và phòng ngừa chung.
Hội đồng xét xử xem xét tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự, thấy rằng: Bị cáo thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải; đã bồi thường cho gia đình của bị hại xong số tiền 173.000.000 đồng nhằm khắc phục hậu quả và gia đình của bị hại có đơn xin bãi nại. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; ngay sau tai nạn đã đến Công an xã trình diện là tình tiết giảm nhẹ “đầu thú”; nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự và có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo; nên xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù mà cho hưởng án treo và việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội.
Về biện pháp tư pháp:
Về xử lý vật chứng: Ghi nhận:
- Chị Nguyễn Thị Kim T đã nhận lại: 01 xe ô tô, biển số 61A-751.45, số khung ACV308011277, số máy 2AZ3185144; 01 (một) khung nhựa chắn bùn xe ô tô kích thước (1m60 x 0,38m) cm; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô, biển số 61A-751.45; 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ xe ô tô, biển số 61A-751.45; 01 (một) giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc xe ô tô, biển số 61A-751.45.
- Anh Đào Văn B đã nhận lại: 01 xe mô tô, biển số 54Y8-1765, số khung CH1HY7C002883, số máy 1P52FMHA017783; 01 (một) cụm đèn sau xe mô tô; 01 (một) bánh xe trước xe mô tô; 01 (một) cung chắn bùn sau xe mô tô bằng nhựa có gắn biển số 54Y8-1765.
Tuyên trả cho bị cáo Trần Thế H 01 giấy phép lái xe hạng FC, số 790104013940.
Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Ghi nhận gia đình của bị hại đã nhận xong số tiền bồi thường là 173.000.000 đồng, không yêu cầu gì thêm.
Về án phí: Căn cứ các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội thì bị cáo Trần Thế H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự.
1. Tuyên bố bị cáo Trần Thế H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt bị cáo Trần Thế H 03 (ba) năm tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Trần Thế H cho Ủy ban nhân dân xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách; trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
“Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.
2. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại:
Ghi nhận gia đình của bị hại đã nhận số tiền bồi thường là 173.000.000 đồng, không yêu cầu gì thêm.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Trả lại cho bị cáo Trần Thế H 01 (một) giấy phép lái xe hạng FC số 790104013940 mang tên Trần Thế H .
Vật chứng hiện Chi cục Thi hành án dân sự Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 09-12-2021.
4. Án phí: Bị cáo Trần Thế H phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
6. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị đơn dân sự có quyền kháng cáo bản án này lên Toà án nhân dân tỉnh Tây Ninh. Người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh Tây Ninh; -VKSND tỉnh Tây Ninh; -VKSND Huyện DMC; -THA Huyện DMC; - Bị cáo; - Người đại diện hợp pháp của bị hại; - Bị đơn dân sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Trần Thanh Tòng |